Bị phân biệt đối xử vì mang thai hoặc nuôi con nhỏ: Pháp luật bảo vệ thế nào?
Trên thực tế, không ít lao động nữ gặp phải tình trạng bị từ chối tuyển dụng, cắt giảm quyền lợi hoặc gây khó khăn trong công việc vì mang thai hoặc đang nuôi con nhỏ. Đây là hành vi có thể xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động, đồng thời vi phạm quy định của pháp luật lao động. Nhằm bảo vệ lao động nữ và bảo đảm quyền bình đẳng trong quan hệ lao động, pháp luật hiện hành đã quy định nhiều cơ chế bảo vệ đối với người lao động đang mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con nhỏ. Trong bài viết dưới đây, Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam sẽ phân tích các quy định pháp luật liên quan và hướng dẫn cách bảo vệ quyền lợi khi bị phân biệt đối xử tại nơi làm việc.
1. Quy định pháp luật về chế độ thai sản
1.1 Khái niệm chế độ thai sản
Chế độ thai sản là một trong những quyền lợi quan trọng của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc, áp dụng đối với cả lao động nữ và lao động nam trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật. Chế độ này được thực hiện trong suốt quá trình thai sản, từ thời điểm khám thai, mang thai, sinh con cho đến giai đoạn nuôi con nhỏ. Mục đích của chế độ thai sản là hỗ trợ, bảo đảm một phần thu nhập và chăm sóc sức khỏe cho lao động nữ khi mang thai, sinh con, nuôi con nhỏ hoặc thực hiện các biện pháp tránh thai; đồng thời bảo đảm quyền lợi cho lao động nam khi có vợ sinh con.
1.2 Điều kiện hưởng chế độ thai sản
Theo quy định tại Điều 50 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, các đối tượng thuộc các điểm a, b, c, d, i, k, l, m và n khoản 1 và khoản 2 Điều 2 của Luật này sẽ được hưởng chế độ thai sản khi thuộc một trong các trường hợp sau: lao động nữ mang thai; lao động nữ sinh con; lao động nữ mang thai hộ; lao động nữ nhờ mang thai hộ; người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi; người lao động thực hiện các biện pháp tránh thai mà việc thực hiện phải tiến hành tại cơ sở khám bệnh, chữa bệnh; và lao động nam đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc có vợ sinh con hoặc vợ mang thai hộ sinh con.
Đối với lao động nữ sinh con, lao động nữ mang thai hộ, lao động nữ nhờ mang thai hộ và người lao động nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, điều kiện để được hưởng chế độ thai sản là phải đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con hoặc trước thời điểm nhận con trong trường hợp nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi.
Trường hợp lao động nữ sinh con hoặc lao động nữ mang thai hộ đã tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 12 tháng trở lên nhưng trong thời gian mang thai phải nghỉ việc để dưỡng thai theo chỉ định của người hành nghề khám bệnh, chữa bệnh thuộc cơ sở khám bệnh, chữa bệnh thì chỉ cần đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 03 tháng trở lên trong thời gian 12 tháng liền kề trước khi sinh con.
Người lao động đã đáp ứng điều kiện hưởng chế độ thai sản theo khoản 2, khoản 3 hoặc khoản 5 Điều 50 nhưng chấm dứt hợp đồng lao động, hợp đồng làm việc hoặc thôi việc trước thời điểm sinh con, trước thời điểm nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi thì vẫn được hưởng chế độ thai sản theo quy định tại các Điều 53, 54, 55, 56 và các khoản 1, 2, 3 Điều 58 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024. Tuy nhiên, thời gian hưởng chế độ thai sản trong trường hợp này không được tính là thời gian đóng bảo hiểm xã hội.
Ngoài ra, đối với lao động nữ sinh con mà phải nghỉ việc để điều trị vô sinh, pháp luật quy định điều kiện hưởng chế độ thai sản là đã đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 06 tháng trở lên trong thời gian 24 tháng liền kề trước khi sinh con.
1.3 Mức hưởng chế độ thai sản
Theo Điều 59 Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024, mức trợ cấp thai sản một tháng đối với người lao động thuộc các trường hợp quy định tại các Điều 51, 52, 53, 54, 55, 56 và 57 của Luật này được xác định bằng 100% mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của 06 tháng gần nhất trước khi người lao động nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản.
Đối với người lao động chưa đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đủ 06 tháng thì mức trợ cấp thai sản đối với các trường hợp quy định tại Điều 51, Điều 52, các khoản 2, 5, 6 và 7 Điều 53, các khoản 1, 2 và 4 Điều 54, khoản 2 Điều 55 và Điều 57 của Luật này được tính bằng mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc của toàn bộ các tháng đã tham gia đóng bảo hiểm xã hội.
Trợ cấp thai sản theo ngày đối với trường hợp quy định tại Điều 51 và khoản 2 Điều 53 của Luật Bảo hiểm xã hội năm 2024 được xác định bằng mức trợ cấp thai sản một tháng chia cho 24 ngày.
Đối với trường hợp sinh con, nhận con khi nhờ mang thai hộ hoặc nhận nuôi con nuôi dưới 06 tháng tuổi, mức trợ cấp thai sản được tính theo mức trợ cấp thai sản một tháng nêu trên. Trường hợp thời gian hưởng có ngày lẻ hoặc thuộc các trường hợp quy định tại Điều 52 và Điều 57 của Luật này thì mức trợ cấp cho mỗi ngày được xác định bằng mức trợ cấp thai sản một tháng chia cho 30 ngày.
Đối với lao động nữ mang thai hộ và lao động nữ nhờ mang thai hộ, việc xác định mức trợ cấp thai sản được thực hiện theo quy định tại các khoản 1, 2 và 3 Điều 59. Mức trợ cấp này được tính trên cơ sở mức bình quân tiền lương làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trước thời điểm nghỉ việc để hưởng chế độ thai sản của lao động nữ mang thai hộ hoặc lao động nữ nhờ mang thai hộ.

2. Chính sách bảo vệ thai sản theo Bộ luật Lao động
Theo Điều 137 Bộ luật Lao động 2019, lao động nữ mang thai và đang nuôi con nhỏ được pháp luật dành nhiều cơ chế bảo vệ đặc biệt nhằm bảo đảm sức khỏe của người mẹ, sự phát triển của trẻ em cũng như quyền lợi trong quan hệ lao động.
Cụ thể, người sử dụng lao động không được bố trí người lao động làm việc vào ban đêm, làm thêm giờ hoặc cử đi công tác xa khi lao động nữ đang mang thai từ tháng thứ 07 trở đi. Đối với trường hợp làm việc tại vùng cao, vùng sâu, vùng xa, biên giới hoặc hải đảo thì thời điểm áp dụng được tính từ tháng thứ 06 của thai kỳ. Bên cạnh đó, lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi cũng không được bố trí làm việc ban đêm, làm thêm giờ hoặc đi công tác xa, trừ trường hợp người lao động đồng ý.
Đối với lao động nữ làm các nghề, công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm, cũng như các công việc có ảnh hưởng xấu đến chức năng sinh sản và việc nuôi con, khi mang thai và đã thông báo cho người sử dụng lao động biết về tình trạng thai sản của mình thì có quyền được chuyển sang làm công việc nhẹ nhàng, an toàn hơn hoặc được giảm bớt 01 giờ làm việc mỗi ngày. Việc chuyển đổi công việc hoặc giảm thời giờ làm việc này không làm ảnh hưởng đến tiền lương, quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động và được áp dụng cho đến hết thời gian nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
Pháp luật cũng nghiêm cấm người sử dụng lao động sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động đối với người lao động vì lý do kết hôn, mang thai, nghỉ thai sản hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng trong trường hợp người sử dụng lao động là cá nhân chết, bị Tòa án tuyên bố mất năng lực hành vi dân sự, mất tích hoặc đã chết. Đối với người sử dụng lao động không phải là cá nhân, việc chấm dứt hợp đồng lao động vẫn có thể xảy ra nếu doanh nghiệp chấm dứt hoạt động hoặc bị cơ quan chuyên môn về đăng ký kinh doanh thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh thông báo không có người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền thực hiện quyền và nghĩa vụ của người đại diện theo pháp luật.
Ngoài ra, trong trường hợp hợp đồng lao động hết hạn trong thời gian lao động nữ đang mang thai hoặc đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì người lao động được ưu tiên giao kết hợp đồng lao động mới theo quy định của pháp luật.
Bên cạnh các quyền lợi nêu trên, lao động nữ trong thời gian hành kinh còn được nghỉ mỗi ngày 30 phút trong thời giờ làm việc. Đối với lao động nữ đang nuôi con dưới 12 tháng tuổi, người lao động được nghỉ mỗi ngày 60 phút trong thời giờ làm việc để chăm sóc con. Toàn bộ thời gian nghỉ này vẫn được tính là thời giờ làm việc và người lao động được hưởng đầy đủ tiền lương theo hợp đồng lao động.
3. Trách nhiệm pháp lý khi phân biệt đối xử vì mang thai hoặc nuôi con nhỏ
Phân biệt đối xử đối với người lao động vì lý do mang thai, nghỉ thai sản hoặc đang nuôi con nhỏ là hành vi bị pháp luật lao động nghiêm cấm. Người sử dụng lao động có các hành vi như từ chối tuyển dụng, cắt giảm quyền lợi, ép nghỉ việc, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động hoặc gây bất lợi cho người lao động vì lý do mang thai hoặc nuôi con nhỏ có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định của pháp luật.
Trường hợp người sử dụng lao động sa thải hoặc đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật đối với lao động nữ mang thai, nghỉ thai sản hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi thì có thể phải nhận người lao động trở lại làm việc, thanh toán tiền lương, đóng các khoản bảo hiểm bắt buộc cho thời gian người lao động không được làm việc và bồi thường theo quy định của Bộ luật Lao động.
Ngoài ra, nếu hành vi phân biệt đối xử gây thiệt hại cho người lao động thì người sử dụng lao động còn có thể phải bồi thường thiệt hại và chịu các trách nhiệm pháp lý khác theo quy định của pháp luật. Người lao động có quyền khiếu nại, yêu cầu cơ quan có thẩm quyền giải quyết hoặc khởi kiện tại Tòa án để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.
_______________________________________________
Cam kết chất lượng dịch vụ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam hoạt động với phương châm tận tâm – hiệu quả – uy tín, cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ, cụ thể như sau:
- Đảm bảo thực hiện công việc theo đúng tiến độ đã thỏa thuận, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật, đúng với quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư Việt Nam.
- Đặt quyền lợi khách hàng lên hàng đầu, nỗ lực hết mình để mang đến cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất.
- Bảo mật thông tin mà khách hàng cung cấp, các thông tin liên quan đến khách hàng.
Rất mong được hợp tác lâu dài cùng sự phát triển của Quý Khách hàng.
Trân trọng!
(Người viết: Đỗ Minh Nguyệt; Ngày viết: 04/06/2026)
_______________________________________________
Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam
Địa chỉ: Tầng 15, Tòa nhà đa năng, Số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 0989.386.729
Email: hotmail@htcvn.vn
Website: https://htcvn.vn; https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn
_______________________________________________
Xem thêm các bài viết có liên quan:
Phân biệt hợp đồng dân sự với hợp đồng lao động
Phải làm gì khi người sử dụng lao động không đóng bảo hiểm cho người lao động?
Các loại hợp đồng lao động phổ biến và nội dung bắt buộc cần biết
Quyền lợi của người lao động khi nghỉ thai sản và bảo hiểm xã hội
Quyền lợi và nghĩa vụ của người lao động theo Luật Lao động hiện hành


