Với đội ngũ luật sư chuyên nghiệp , trình độ chuyên môn cao. HTC VIỆT NAM chắc chắn sẽ làm quí khách hài lòng với các dịch vụ tư vấn luật hôn nhân gia đình. Liên hệ 0989 386 729 để nhận được sự hỗ trợ tốt nhất
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam chuyên cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý về lĩnh vực Hôn nhân và gia đình cho khách hàng trong và ngoài nước. Với đội ngũ Luật sư, chuyên gia có nhiều kinh nghiệm tư vấn và tham gia tranh tụng tại Tòa án, chúng tôi cam kết cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật về Hôn nhân và Gia đình từ A đến Z với mục đích HTC Việt Nam là mang đến “Hạnh phúc – Thành công – Cường thịnh” cho Quý khách hàng.
Các vụ án ly hôn thường liên quan trực tiếp đến đời sống riêng tư, quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản và nhiều thông tin cá nhân nhạy cảm. Vì vậy, không ít người lo ngại việc xét xử công khai có thể ảnh hưởng đến danh dự, uy tín hoặc quyền riêng tư của mình và mong muốn Tòa án xét xử kín. Vậy pháp luật hiện hành có cho phép yêu cầu xét xử kín trong vụ ly hôn hay không và điều kiện để Tòa án chấp nhận yêu cầu này là gì? Theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, nguyên tắc chung là các vụ án được xét xử công khai. Tuy nhiên, trong một số trường hợp đặc biệt nhằm bảo vệ bí mật theo quy định của pháp luật hoặc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự, Tòa án có thể quyết định xét xử kín theo đúng căn cứ luật định.
Trong thực tế, không ít trường hợp vợ hoặc chồng đang chấp hành án phạt tù khiến đời sống hôn nhân không thể duy trì, dẫn đến việc bên còn lại có nhu cầu yêu cầu ly hôn. Tuy nhiên, nhiều người băn khoăn liệu người đang chấp hành án tù có được ly hôn hay không, việc giải quyết ly hôn trong trường hợp này có gì khác so với các vụ án ly hôn thông thường và Tòa án sẽ tiến hành thủ tục như thế nào. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, việc một bên đang chấp hành án tù không làm mất quyền yêu cầu ly hôn hoặc quyền tham gia tố tụng của người đó. Tuy nhiên, quá trình giải quyết sẽ được thực hiện theo trình tự, thủ tục phù hợp với điều kiện thực tế và quy định của pháp luật.
Trong các vụ án ly hôn, tranh chấp về tài sản luôn là một trong những nội dung phức tạp nhất, đặc biệt khi tài sản chung của vợ chồng là nhà ở, quyền sử dụng đất hoặc bất động sản khác đang được thế chấp tại ngân hàng hoặc tổ chức tín dụng để bảo đảm thực hiện nghĩa vụ trả nợ. Nhiều người cho rằng tài sản đang thế chấp thì không thể chia khi ly hôn hoặc phải tất toán khoản vay trước khi yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên, đây là quan điểm chưa hoàn toàn chính xác. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và các quy định pháp luật có liên quan, việc bất động sản đang thế chấp không làm mất quyền yêu cầu chia tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn. Tuy nhiên, việc giải quyết phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của bên nhận thế chấp và xem xét đầy đủ nghĩa vụ tài sản của các bên.
Việc nhận con nuôi làm phát sinh quan hệ cha mẹ và con theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi cha mẹ nuôi ly hôn, nhiều người băn khoăn liệu con nuôi có còn được hưởng quyền thừa kế hay không, quyền lợi của con nuôi có bị ảnh hưởng bởi việc chấm dứt quan hệ hôn nhân giữa cha mẹ nuôi hay không. Theo quy định của Luật Nuôi con nuôi năm 2010, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015, việc ly hôn của cha mẹ nuôi không làm chấm dứt quan hệ cha mẹ nuôi và con nuôi đã được xác lập hợp pháp. Vì vậy, quyền và nghĩa vụ giữa cha mẹ nuôi và con nuôi, trong đó có quyền thừa kế, vẫn được pháp luật bảo vệ nếu không thuộc trường hợp chấm dứt việc nuôi con nuôi theo quy định.
Trong thời kỳ hôn nhân, việc xác định tài sản là tài sản riêng hay tài sản chung của vợ chồng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là khi phát sinh tranh chấp về chia tài sản sau ly hôn hoặc tranh chấp với người thứ ba. Thực tế cho thấy, không ít trường hợp một bên cho rằng tài sản thuộc sở hữu riêng của mình nhưng lại không có tài liệu, chứng cứ chứng minh, dẫn đến gặp nhiều bất lợi khi giải quyết tại Tòa án. Theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ hoặc chồng được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, người cho rằng tài sản đang tranh chấp là tài sản riêng cần có căn cứ và chứng cứ chứng minh theo quy định của pháp luật. Vậy những loại chứng cứ nào có thể được sử dụng để chứng minh tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân?
Sau khi ly hôn, việc trực tiếp nuôi con không làm chấm dứt quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, người không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng nhằm bảo đảm điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con cho đến khi con đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Tuy nhiên, trên thực tế, mức cấp dưỡng đã được thỏa thuận hoặc Tòa án quyết định tại thời điểm ly hôn có thể không còn phù hợp do hoàn cảnh kinh tế của cha, mẹ thay đổi hoặc nhu cầu thiết yếu của con tăng lên theo thời gian. Vì vậy, pháp luật cho phép các bên yêu cầu thay đổi mức cấp dưỡng khi có căn cứ. Vậy khi nào được yêu cầu tăng hoặc giảm mức cấp dưỡng nuôi con sau ly hôn và thủ tục thực hiện như thế nào?
Trong thực tế, không ít trường hợp nam, nữ có con chung nhưng không đăng ký kết hôn hoặc người cha chưa thực hiện thủ tục nhận con dẫn đến việc thông tin về cha không được ghi nhận trong Giấy khai sinh. Điều này có thể ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của trẻ em cũng như quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con. Vì vậy, việc xác định cha cho con ngoài giá thú là thủ tục pháp lý quan trọng nhằm bảo đảm quyền nhân thân, quyền được chăm sóc, nuôi dưỡng, cấp dưỡng và các quyền dân sự khác của người con theo quy định của pháp luật. Hiện nay, thủ tục xác định cha cho con được điều chỉnh bởi Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Hộ tịch năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản hướng dẫn thi hành. Tùy từng trường hợp cụ thể, việc xác định cha cho con có thể được thực hiện thông qua thủ tục đăng ký nhận cha, con tại cơ quan hộ tịch hoặc thông qua Tòa án khi có tranh chấp.
Ly hôn đơn phương là thủ tục được một bên vợ hoặc chồng yêu cầu Tòa án giải quyết khi không đạt được sự thống nhất về việc chấm dứt quan hệ hôn nhân hoặc bên còn lại không đồng ý ly hôn. Đây là một trong những loại vụ việc hôn nhân và gia đình thường mất nhiều thời gian hơn so với thuận tình ly hôn do Tòa án phải tiến hành đầy đủ các thủ tục tố tụng, thu thập chứng cứ và giải quyết các tranh chấp phát sinh nếu có. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, thời gian giải quyết một vụ án ly hôn đơn phương phụ thuộc vào nhiều yếu tố như tính chất vụ việc, việc cung cấp chứng cứ của các bên, quá trình hòa giải, có tranh chấp về con chung, tài sản, nợ chung hay không và việc một bên có hợp tác trong quá trình tố tụng hay không.
Bạo lực gia đình không chỉ gây tổn hại đến sức khỏe, tính mạng và tinh thần của nạn nhân mà còn ảnh hưởng nghiêm trọng đến sự phát triển toàn diện của trẻ em. Trong nhiều vụ việc ly hôn, một trong hai bên có hành vi bạo lực gia đình và phát sinh tranh chấp về quyền trực tiếp nuôi con. Khi đó, nhiều người cho rằng người có hành vi bạo lực sẽ đương nhiên mất quyền nuôi con. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không quy định theo hướng này mà Tòa án sẽ xem xét toàn diện các yếu tố để đưa ra quyết định phù hợp với lợi ích tốt nhất của trẻ. Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Luật Phòng, chống bạo lực gia đình năm 2022 và các văn bản pháp luật có liên quan, việc giao con cho cha hoặc mẹ trực tiếp nuôi dưỡng phải đặt lợi ích mọi mặt của con lên hàng đầu. Hành vi bạo lực gia đình là một trong những căn cứ quan trọng để Tòa án đánh giá điều kiện nuôi con, nhưng không phải là căn cứ duy nhất.
Hiện nay, nhiều cặp nam nữ lựa chọn chung sống như vợ chồng nhưng không thực hiện thủ tục đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Trong quá trình chung sống, hai bên có thể có con chung và cùng chăm sóc, nuôi dưỡng con. Tuy nhiên, khi mối quan hệ chấm dứt, việc xác định ai là người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ cấp dưỡng và quyền thăm nom thường trở thành vấn đề phát sinh nhiều tranh chấp. Theo quy định của pháp luật hiện hành, mặc dù nam, nữ không đăng ký kết hôn thì quan hệ vợ chồng không được pháp luật công nhận, nhưng quyền và lợi ích hợp pháp của con vẫn luôn được bảo vệ. Việc giải quyết quyền nuôi con trong trường hợp này được thực hiện theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, bảo đảm nguyên tắc ưu tiên lợi ích mọi mặt của con.
Trong bối cảnh hội nhập quốc tế, ngày càng nhiều trường hợp vợ hoặc chồng đang sinh sống, làm việc hoặc định cư ở nước ngoài. Khi hôn nhân không thể tiếp tục, việc ly hôn trong trường hợp một bên ở nước ngoài thường gặp nhiều khó khăn hơn so với các vụ việc trong nước do liên quan đến yếu tố nước ngoài, thủ tục ủy thác tư pháp, tống đạt văn bản tố tụng và xác minh thông tin của đương sự. Chính vì vậy, nhiều người băn khoăn liệu việc ly hôn có kéo dài nhiều năm hay không và có cách nào để rút ngắn thời gian giải quyết. Theo quy định của pháp luật hiện hành, ly hôn có yếu tố nước ngoài được giải quyết theo Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 và các văn bản pháp luật có liên quan. Việc chuẩn bị đầy đủ hồ sơ, xác định đúng thẩm quyền của Tòa án và phối hợp tốt trong quá trình giải quyết vụ việc sẽ góp phần rút ngắn thời gian giải quyết.
Trong đời sống hôn nhân, việc mua bán nhà đất, cầm cố tài sản, vay ngân hàng, chuyển nhượng xe, góp vốn kinh doanh hoặc bảo lãnh nghĩa vụ tài chính thường liên quan trực tiếp đến tài sản chung của vợ chồng. Tuy nhiên, rất nhiều người chỉ quan tâm đến giấy tờ đứng tên ai mà bỏ qua một vấn đề quan trọng hơn: giao dịch đó có đủ điều kiện pháp lý để phát sinh hiệu lực hay không. Trên thực tế, không ít hợp đồng bị tuyên vô hiệu chỉ vì thiếu chữ ký của vợ hoặc chồng, một bên tự ý bán tài sản chung hoặc người nhận chuyển nhượng không kiểm tra đúng tình trạng pháp lý tài sản.
Trong đời sống hiện nay, việc mua nhà, mua xe hoặc đầu tư tài sản theo hình thức trả góp trước khi kết hôn là chuyện khá phổ biến. Tuy nhiên, nhiều người chỉ thực sự nhận ra rủi ro pháp lý khi hôn nhân đổ vỡ và bắt đầu tranh chấp tài sản. Một căn hộ được ký hợp đồng mua trước cưới nhưng tiền trả ngân hàng lại kéo dài nhiều năm sau khi kết hôn sẽ được xem là tài sản riêng hay tài sản chung? Nếu cả hai vợ chồng cùng dùng thu nhập trong thời kỳ hôn nhân để trả nợ thì người còn lại có quyền yêu cầu chia giá trị tài sản hay không?
Trong thực tế hôn nhân, không ít gia đình rơi vào khủng hoảng vì một người tham gia cờ bạc, cá độ hoặc vay tiền để chơi đỏ đen mà người còn lại hoàn toàn không biết. Chỉ đến khi chủ nợ tìm đến nhà, tài sản bị siết hoặc phát sinh tranh chấp ly hôn thì câu hỏi mới xuất hiện: khoản nợ đó có phải cả hai vợ chồng cùng chịu trách nhiệm hay không?