Vai trò của luật sư trong việc thu thập chứng cứ đòi nợ hợp pháp
Trong các vụ việc đòi nợ, chứng cứ là yếu tố then chốt quyết định khả năng bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của chủ nợ. Dù khoản nợ phát sinh từ hợp đồng, giao dịch dân sự hay quan hệ vay mượn, nếu chứng cứ không được thu thập đầy đủ, đúng trình tự và có giá trị pháp lý thì việc chứng minh yêu cầu trước cơ quan có thẩm quyền sẽ gặp nhiều khó khăn. Chính vì vậy, vai trò của luật sư không chỉ dừng lại ở việc tư vấn quy định pháp luật mà còn thể hiện rõ trong việc xác định, thu thập, đánh giá và củng cố hệ thống chứng cứ một cách hợp pháp, toàn diện. Sự đồng hành của luật sư ngay từ giai đoạn đầu sẽ giúp khách hàng xây dựng hồ sơ chặt chẽ, hạn chế rủi ro pháp lý và nâng cao khả năng thu hồi khoản nợ thông qua thương lượng hoặc giải quyết tại Tòa án.
1. Chứng cứ và nguồn của chứng cứ
Theo Điều 86 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015, “chứng cứ” là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật này quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi phạm tội, người thực hiện hành vi phạm tội và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án.
Dựa trên khái niệm này, “chứng cứ đòi nợ” là những gì có thật, được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng Hình sự quy định, được dùng làm căn cứ để xác định có hay không có hành vi vay tiền không trả, người thực hiện hành vi vay tiền không trả và những tình tiết khác có ý nghĩa trong việc giải quyết vụ án đòi nợ.
Theo khoản 1 Điều 87 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015, chứng cứ được thu thập, xác định từ các nguồn:
a) Vật chứng;
b) Lời khai, lời trình bày;
c) Dữ liệu điện tử;
d) Kết luận giám định, định giá tài sản;
đ) Biên bản trong hoạt động khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án;
e) Kết quả thực hiện ủy thác tư pháp và hợp tác quốc tế khác;
g) Các tài liệu, đồ vật khác.
Những gì có thật nhưng không được thu thập theo trình tự, thủ tục do Bộ luật Tố tụng hình sự quy định thì không có giá trị pháp lý và không được dùng làm căn cứ để giải quyết vụ án hình sự theo khoản 2 Điều 87.

2. Vai trò của luật sư trong việc thu thập chứng cứ đòi nợ hợp pháp
Theo quy định tại khoản 2 Điều 88 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015: “Để thu thập chứng cứ, người bào chữa có quyền gặp người mà mình bào chữa, bị hại, người làm chứng và những người khác biết về vụ án để hỏi, nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ án; đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc bào chữa”. Điều đó có nghĩa là “Luật sư có quyền thu thập chứng cứ” cụ thể hơn trong trường hợp đòi nợ cho thân chủ thì “luật sư có quyền thu thập chứng cứ đòi nợ”.
Nhưng luật sư phải thu thập chứng cứ đòi nợ sao cho hợp pháp, không xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của con nợ, tránh trường hợp rước rắc rối bị kiện ngược lại cho chủ nợ. Việc thu thập chứng cứ đòi nợ của luật sư có thể được thực hiện thông qua các hoạt động hợp pháp sau đây:
- Luật sư có quyền hỏi người mà mình bảo vệ, thân chủ, người làm chứng và những người khác biết về vụ việc để hỏi, để nghe họ trình bày về những vấn đề liên quan đến vụ việc. Từ đó luật sư xác minh tính xác thực trong các lời khai của chủ nợ và con nợ. Lời trình bày của những người này có thể trở thành chứng cứ quan trọng được sử dụng trong dịch vụ hình sự, có thể hữu ích trong quá trình bảo vệ thân chủ của luật sư, góp phần quan trọng làm sáng tỏ sự thật của dự án.
- Đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, liên quan đến việc thu thập chứng cứ. Bên cạnh việc trực tiếp, độc lập tiến hành các hoạt động thu thập chứng cứ, Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 còn ghi nhận quyền của Luật sư trong việc tham gia vào các hoạt động thu thập chứng cứ của cơ quan tiến hành tố tụng. Sự kiện luật sư khi người tiến hành tố tụng thu thập chứng cứ sẽ góp phần bảo đảm tính khách quan, đúng trình tự, thủ tục của người tiến hành tố tụng hoặc trấn an tinh thần của người được tạm giữ, bị can, bị cáo. Hoạt động này có thể được thực hiện trong các công việc:
+ Có mặt khi lấy lời khai của người bị bắt, bị tạm giữ, khi hỏi cung bị can và nếu người có thẩm quyền tiến hành lấy lời khai, hỏi cung đồng ý thì được hỏi người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can.
+ Có mặt trong hoạt động nhận dạng, nhận biết giọng nói và hoạt động điều tra khác theo quy định của BLTTHS;
+ Xem biên bản về hoạt động tố tụng có sự tham gia của mình, quyết định tố tụng liên quan đến người mà mình bào chữa;
+ Đề nghị tiến hành hoạt động tố tụng theo quy định của Bộ luật này; đề nghị triệu tập người làm chứng, người tham gia tố tụng khác, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng;
+ Kiểm tra, đánh giá và trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tụng kiểm tra, đánh giá;
+ Đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tụng tụng thu thập chứng cứ, giám định bổ sung, giám định lại, định giá lại tài sản;
+ Đọc, biên soạn và sao chép các tài liệu trong hồ sơ dự án liên quan đến sức khỏe từ khi kết thúc cuộc hỏi;
+ Tham gia hỏi, tranh tụng tại phiên tòa.
3. Một số bất lợi, khó khăn trong ứng dụng thực tế
Mặc dù luật pháp công nhận Luật sư có quyền tham gia vào quá trình thu thập chứng cứ nói chung và chứng cứ đòi nợ nói riêng nhưng thực tiễn áp dụng việc thu thập chứng cứ độc lập của Luật sư vẫn gặp phải vô cùng khó khăn. Cụ thể:
- Khoản 4 Điều 88 Bộ Luật Tố tụng Hình sự 2015 quy định: “Khi tiếp nhận chứng cứ, tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến vụ án do những người quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều này cung cấp, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải lập biên bản giao nhận và kiểm tra, đánh giá theo quy định của Bộ luật này”. Như vậy, sau khi thu thập được tài liệu, đồ vật… thì việc đánh giá xem đó có phải là bằng chứng hay không và quyết định có sử dụng hay không lại phụ thuộc hoàn toàn vào cơ quan tiến hành tố tụng. Điều này dẫn đến sự thiếu hụt khách hàng, trong nhiều trường hợp hợp lý khi giao dịch những chứng cứ quan trọng đó sẽ vô hiệu hóa làm sai lệch dẫn đến không còn chứng minh giá trị.
- Hoạt động thu thập chứng cứ bằng cách đề nghị cơ quan, tổ chức, cá nhân cung cấp tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc đòi nợ: Quy định này rất hình thức do thực tiễn, việc Luật sư đề nghị các cơ quan, tổ chức, cá nhân đặc biệt là cơ quan, tổ chức Nhà nước cung cấp các tài liệu, đồ vật, dữ liệu điện tử liên quan đến việc đòi nợ chứa nhiều vấn đề. Khi cơ quan, tổ chức, cá nhân không hợp tác trong công việc cung cấp tài liệu, đồ vật thì Luật sư lại phải quay sang đề nghị cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng thu thập. Như vậy, hoạt động thu thập chứng cứ của Luật sư vẫn trở lại bằng cách đề nghị cơ quan tiến hành tụng tiến hành thu thập.
Có thể thấy, mặc dù vị trí của luật sư trong việc thực hiện thu thập chứng cứ đòi nợ đã được nâng cao. Tuy nhiên, việc thực hiện hoạt động thu thập chứng cứ đòi nợ của Luật sư vẫn vô cùng khó khăn, chưa có cơ chế bảo đảm thực hiện và cần phải có các văn bản hướng dẫn chi tiết để các quy định này được thực hiện một cách nghiêm túc.
Trên đây là bài viết của chúng tôi về vai trò của luật sư trong việc thu thập chứng cứ đòi nợ hợp pháp. Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam vui mừng đồng hành cùng khách hàng trong việc giải quyết mọi vấn đề pháp lý. Hãy liên hệ với chúng tôi để được sử dụng dịch vụ tư vấn tốt nhất.
4. Những điều nên tránh để việc thu thập chứng cứ đòi nợ của Luật sư bị trở thành bất hợp pháp
(1) Không thu thập chứng cứ bằng hành vi vi phạm pháp luật
Luật sư không được sử dụng các biện pháp trái pháp luật như đột nhập nơi ở, chiếm giữ tài liệu, xâm phạm thư tín, nghe lén điện thoại, cài đặt thiết bị ghi âm, ghi hình trái phép hoặc truy cập trái phép vào tài khoản email, mạng xã hội, dữ liệu điện tử của người khác. Những chứng cứ có được từ các hành vi này có nguy cơ không được Tòa án chấp nhận, đồng thời có thể làm phát sinh trách nhiệm dân sự, hành chính hoặc hình sự.
(2) Không giả mạo hoặc làm sai lệch chứng cứ
Việc chỉnh sửa nội dung tin nhắn, email, hợp đồng, biên nhận, sao chép hoặc cắt ghép file ghi âm, ghi hình nhằm tạo lợi thế cho khách hàng là hành vi bị nghiêm cấm. Luật sư cần bảo đảm mọi chứng cứ được cung cấp phản ánh đúng bản chất của sự việc và có nguồn gốc rõ ràng.
(3) Không hướng dẫn khách hàng tạo lập chứng cứ giả
Luật sư không được tư vấn hoặc hỗ trợ khách hàng lập giấy vay tiền, biên bản xác nhận nợ, tin nhắn, email hay bất kỳ tài liệu nào sau khi tranh chấp đã phát sinh để hợp thức hóa yêu cầu đòi nợ. Đây là hành vi vi phạm đạo đức nghề nghiệp và có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến kết quả giải quyết vụ án.
(4) Không gây áp lực hoặc ép buộc người làm chứng
Lời khai của người làm chứng phải được đưa ra trên cơ sở tự nguyện và khách quan. Luật sư cần tránh mọi hành vi dụ dỗ, đe dọa, mua chuộc hoặc tác động trái pháp luật đến người làm chứng để thay đổi nội dung lời khai.
(5) Không vi phạm quy định về bảo mật thông tin
Trong quá trình thu thập chứng cứ, luật sư phải tôn trọng quyền về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân, bí mật gia đình và bí mật kinh doanh của các bên liên quan. Việc công khai hoặc sử dụng thông tin vượt quá phạm vi cần thiết cho việc giải quyết vụ việc có thể dẫn đến trách nhiệm pháp lý và ảnh hưởng đến uy tín nghề nghiệp.
(6) Không tự ý thu giữ tài sản hoặc giấy tờ của bên nợ
Luật sư không có quyền thay mặt khách hàng cưỡng chế, thu giữ giấy tờ, tài sản hoặc giữ người để buộc trả nợ. Mọi biện pháp thu hồi nợ phải được thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục do pháp luật quy định.
(7) Không bỏ qua việc kiểm tra tính hợp pháp của chứng cứ điện tử
Đối với các chứng cứ như email, tin nhắn, dữ liệu từ mạng xã hội, file ghi âm, ghi hình hoặc dữ liệu máy tính, luật sư cần xác minh nguồn gốc, thời điểm tạo lập, tính toàn vẹn của dữ liệu và phương thức thu thập. Nếu chứng cứ điện tử bị chỉnh sửa, không xác định được nguồn gốc hoặc được thu thập trái pháp luật thì giá trị chứng minh sẽ bị giảm đáng kể hoặc không được chấp nhận.
(8) Không chỉ dựa vào một loại chứng cứ
Trong thực tiễn, việc đòi nợ sẽ có sức thuyết phục hơn khi nhiều loại chứng cứ được kết hợp để chứng minh cùng một sự kiện. Luật sư nên xây dựng hệ thống chứng cứ đồng bộ gồm hợp đồng, giấy vay tiền, biên nhận, sao kê ngân hàng, tin nhắn, email, ghi âm, lời khai của người làm chứng và các tài liệu liên quan khác thay vì phụ thuộc vào một chứng cứ duy nhất.
___________________________________
Cam kết chất lượng dịch vụ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam hoạt động với phương châm tận tâm – hiệu quả – uy tín, cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ, cụ thể như sau:
- Đảm bảo thực hiện công việc theo đúng tiến độ đã thỏa thuận, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật, đúng với quy tắc đạo đức và ứng xử của Luật sư Việt Nam.
- Đặt quyền lợi khách hàng lên hàng đầu, nỗ lực hết mình để mang đến cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất.
- Bảo mật thông tin mà khách hàng cung cấp, các thông tin liên quan đến khách hàng.
Rất mong được hợp tác lâu dài cùng sự phát triển của Quý Khách hàng.
Trân trọng!
(Người viết: Nguyễn Mai Ninh; Ngày viết: 17/7/2026)
___________________________________
Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam
Địa chỉ: P401, Tầng 4, Tòa nhà đa năng, số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 0989.386.729
Email: hotmail@htcvn.vn
Website: https://htcvn.vn; https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn
___________________________________
Các bài viết liên quan:
- Vai trò của Luật sư trong việc xử lý các khoản nợ khó đòi
- Quy định về thu thập chứng cứ của luật sư
- Vì sao nên thuê luật sư khởi kiện đòi nợ
- Vai trò của Luật sư trong việc xử lý các khoản nợ khó đòi
- Vai trò của luật sư trong tranh tụng thu hồi nợ


