Thủ tục sang tên khi bố mẹ mất để lại tài sản
Khi bố mẹ qua đời để lại tài sản — nhất là nhà đất — nhiều gia đình lâm vào trạng thái lúng túng. Có người tin rằng “tự nhiên con được hưởng” nhưng thực tế quyền hưởng phát sinh từ thời điểm người để lại di sản chết (theo quy định pháp luật), còn việc được công nhận quyền sử dụng đất hợp pháp phải thông qua thủ tục hành chính: công chứng, khai nhận/phân chia di sản và đăng ký biến động tại cơ quan đất đai. Để tránh hiểu nhầm, mâu thuẫn trong gia đình, và rủi ro pháp lý, điều quan trọng là nắm rõ các trường hợp thừa kế, trình tự thủ tục tương ứng và các điểm cần lưu ý trước khi tiến hành sang tên.

1. Các trường hợp thừa kế tài sản khi bố mẹ mất
Về mặt pháp lý, việc thừa kế được phân thành hai trường hợp chính: ‘’thừa kế theo di chúc’’ và ‘’thừa kế theo pháp luật’’. Việc xác định thuộc nhóm nào là bước quyết định cách thức, thời hạn và thủ tục phải làm sau này từ công chứng, niêm yết đến đăng ký biến động tài sản tại Văn phòng đăng ký đất đai.
Thừa kế theo di chúc: đây là trường hợp người để lại tài sản (bố hoặc mẹ) trước khi chết đã lập di chúc thể hiện ý chí phân chia tài sản cho một hoặc nhiều người cụ thể. Về mặt pháp luật, di chúc được tôn trọng nếu hợp pháp, tức đáp ứng điều kiện hình thức và năng lực hành vi theo quy định (tham chiếu: Bộ luật Dân sự 2015, Điều 630 về hình thức di chúc). Trong thực tế, di chúc công chứng/chứng thực sẽ tạo thuận lợi lớn vì giảm tranh chấp; di chúc viết tay vẫn có giá trị nếu đủ yếu tố chứng minh tính xác thực.
Tuy nhiên, cần lưu ý các trường hợp “quyền hưởng bắt buộc” (người thừa kế không bị hạn chế bởi nội dung di chúc) như con chưa thành niên, người bị phụ thuộc để đảm bảo họ không bị tước quyền hưởng tối thiểu (tham chiếu quy định bảo vệ người thừa kế bắt buộc).
Ví dụ điển hình: cha mẹ lập di chúc để lại nhà cho con cả vì con cả đã chăm sóc trong những năm cuối đời; nếu di chúc hợp lệ, con cả được hưởng theo di chúc, nhưng vẫn phải đảm bảo phần tối thiểu cho những người thuộc diện được bảo vệ nếu luật quy định.
Thừa kế theo pháp luật (không có di chúc): khi bố mẹ không để lại di chúc, di sản được chia theo thứ tự hàng thừa kế theo điều 651 BLDS 2015. Hàng thừa kế thứ nhất gồm: vợ/chồng, cha mẹ, con cái, nếu trường hợp không có những người trong hàng thừa kế thứ nhất thì sẽ xem xét những người ở hàng thừa kế thứ hai để nhận phần di sản và đối với hàng thừa kế thứ ba cũng tương tự như vậy . Đây là tình huống phổ biến ở nhiều gia đình: bố mẹ qua đời nhưng không để lại giấy tờ di chúc, ba mẹ để tài sản chung do đó, tất cả người thuộc hàng thừa kế phải thỏa thuận phân chia hoặc tòa án phân xử khi có tranh chấp.
Thực tế hay gặp: một mảnh đất đứng tên bố, mẹ chết, còn lại bố và 3 con, di sản sẽ thuộc hàng thừa kế gồm bố và 3 con; nếu họ đồng ý thì có thể lập văn bản thỏa thuận phân chia, nếu không đồng ý thì phải mang nhau ra tòa.
Ngoài ra cần phân biệt tính chất tài sản: đất đai và nhà ở (bất động sản) thường chịu quy trình với nhiều yêu cầu hơn (cần sổ đỏ gốc, tờ khai biến động, công chứng văn bản thừa kế) trong khi tài sản tiền gửi, cổ phiếu, vàng có thể phân chia dựa trên thỏa thuận và xử lý trực tiếp với ngân hàng/đơn vị giữ tài sản khi có văn bản thừa kế hợp lệ. Một điểm thực tế quan trọng là phải xác minh tài sản là tài sản chung của vợ chồng hay tài sản riêng, vì nếu là tài sản chung thì phần của người chồng/vợ còn sống có thể ảnh hưởng đến phần chia của người khác.
Ví dụ: nếu mảnh đất ghi chung tên hai vợ chồng mà một người chết, phần tài sản của người chết chỉ là phần thuộc về họ (sau khi trừ phần của người còn sống), do đó cần xác định tỷ lệ trước khi chia thừa kế cho con.


