TỪ NĂM 2021 ĐƠN PHƯƠNG CHẤM DỨT HỢP ĐỒNG CÓ GÌ MỚI?
Hợp đồng lao động là sự thuận lợi giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có lương, điều kiện làm việc, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động. Vậy pháp luật hành động có quy định mới về đơn phương chấm dứt hợp đồng không? Công ty luật HTC Việt Nam sẽ đồng hành cùng bạn giải đáp những thắc mắc trong bài viết sau đây.
I. Cơ sở pháp lý
- Luật lao động năm 2019.
II. Nội dung tư vấn
1. Quy định về đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động
Đơn vị chấm dứt hợp đồng là quyền được “rút chân” ra khỏi một đồng đã được giao kết trước đó. Về nguyên tắc, việc phá vỡ cam luôn không được khuyến khích, nếu không muốn nói là bị cấm. Tuy nhiên, nếu như pháp luật hợp đồng nói chung trù liệu cho việc phá vỡ cam kết một cách chủ động chỉ trong một số trường hợp được dự kiến và bên phá vỡ cam kết luôn phải chịu đựng những hậu quả pháp lý nhất định, thì luật lao động xem việc đơn phương chấm kết HĐLĐ, đặc biệt là đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ người lao động (NLĐ) như một quyền quan trọng của NLĐ, quan trọng không có quyền được kết thúc HĐLĐ.
Điểm đ khoản 1 Điều 5 Bộ luật Lao động năm 2019 (BLLĐ 2019) quy định, NLĐ có quyền “Đơn phương chấm dứt hợp đồng đồng lao động”.
Nhìn vào tổng thể các trường hợp nhất chấm dứt HĐLĐ được ghi nhận tại Việt Nam có thể hình dung được 3 nhóm nguyên nhân:
- Chấm dứt HDLĐ làm những nguyên nhân tất yếu
- Đơn phương chấm dứt HĐLĐ
- Chấm dứt HDLĐ làm cắt giảm lao động (bao gồm các trường hợp chấm dứt HĐLĐ thay đổi cơ sở hoặc công nghệ, chấm dứt HDLĐ vì lý do kinh tế và chấm dứt HĐLĐ làm sáp nhập, hợp nhất, chia, chia doanh nghiệp, hợp tác giao xã).
Trong đó, đơn phương chấm dứt hợp đồng là một trường hợp lý được ghi nhận với khá nhiều điều quan trọng từ nhà làm luật. Có thể nói, nhìn vào các góc độ pháp luật so sánh, các quy định về chấm dứt HĐLĐ được xác định có sự khác biệt lớn giữa các quốc gia.
2. Trường hợp NLĐ được đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng phải báo trước
BLLĐ 2019 của Việt Nam thiết lập điều kiện để đơn phương chấm dứt HĐLĐ tùy thuộc vào lý do của việc chấm dứt. Và điều kiện duy nhất đặt ra trong đơn phương chấm dứt HĐLĐ từ NLĐ, đó là điều kiện báo trước.
Khoản 1 Điều 35 BLLĐ 2019 “NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ nhưng phải báo trước cho NSDLĐ như sau:
- Tối thiểu 45 ngày nếu làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn;
- Tối thiểu 30 ngày nếu làm việc theo HĐLĐ xác định có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
- Ít nhất 03 ngày làm việc nếu làm việc theo HĐLĐ xác định có thời hạn dưới 12 tháng;
- Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của phủ Chính.
3. Trường hợp NLĐ được đơn phương chấm dứt hợp đồng nhưng không phải báo trước
Trong khi đó, nếu có những lý do được liệt kê sau đây thì NLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần phải báo trước:
- Không thể bố trí công việc, địa điểm làm việc đúng hoặc không được đảm bảo điều kiện làm việc theo sự đồng ý, trừ trường hợp quy định tại Điều 29 của BLLĐ;
- Không được trả đủ lương hoặc trả lương không đúng thời hạn, trừ trường hợp quy định tại khoản 4 Điều 97 của BLLĐ;
- Bị NSDLĐ ngược Khách, đánh đập hoặc có lời nói, hành vi xúc mạ, hành vi làm ảnh ảnh hưởng đến sức khỏe, nhân sản, danh dự; bị ép bức lao động;
- Bị rối rối tình dục tại nơi làm việc;
- Lao động nữ mang thai phải nghỉ việc theo quy định tại khoản 1 Điều 138 của BLLĐ;
- Đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ trường hợp các bên có ý kiến khác;
- NSDLĐ cung cấp thông tin không trung thực theo quy định tại khoản 1 Điều 16 của BLLĐ làm ảnh hưởng đến việc thực hiện hợp đồng đồng lao động.
Với cách quy định nêu trên, về nguyên tắc, trong mọi trường hợp, vì bất kỳ lý do gì và với loại HDLĐ nào, NLĐ luôn có quyền tự tuyên bố chấm dứt HDLĐ mà chỉ cần thủ thủ yêu cầu về việc báo trước nêu.
Ngay khoản 2 Điều 35, Bộ luật Lao động còn miễn phí cho NLĐ nghĩa vụ phải báo trước khi có những lý do được liệt kê là nguyên nhân của việc chấm dứt HĐLĐ. Có thể xem trường hợp thứ hai này là việc chấm dứt HĐLĐ không cần điều kiện. Như vậy, theo quy định của BLLĐ 2019, việc đơn phương chấm dứt HĐLĐ của NLĐ được chia thành hai trường hợp hợp, phải báo trước và không cần phải báo trước. Có thể thấy nghĩa vụ báo trước không phải là một nghĩa vụ hay điều kiện khó thực hiện, từ đó có thể thấy BLLĐ 2019 đã tạo điều kiện rất thuận lợi cho người lao động trong việc làm chủ động và đơn phương chấm dứt HĐLĐ.
4. Trường hợp NSDLĐ được đơn phương chấm dứt HĐLĐ
Theo quy định tại khoản 1 Điều 36 Bộ luật Lao động 2019 thì NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ trong trường hợp lý sau đây:
- NLĐ thường xuyên không hoàn thành công việc theo HDLĐ được xác định theo tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong quy chế của NSDLĐ. Quy định mức độ hoàn thành công việc của NSDLĐ cấm hành động nhưng phải tham khảo ý kiến kiến trúc đại diện NLĐ tại cơ sở đối với nơi có tổ chức đại diện NLĐ tại cơ sở.
- NLĐ bị đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc theo HĐLĐ không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc theo HĐLĐ xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn HDLĐ đối với người làm việc theo HĐLĐ xác định có thời hạn dưới 12 tháng mà khả năng lao động chưa hồi phục.
- Khi sức khỏe của NLĐ bình phục thì NSDLĐ xem xét để tiếp tục giao tiếp HĐLĐ với NLĐ.
- Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, đua tranh hoặc di chuyển, thu gọn sản phẩm, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà NSDLĐ tìm mọi biện pháp giải quyết nhưng vẫn buộc phải giảm dung lượng làm việc.
- NLĐ không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 Bộ luật lao động 2019.
- NLĐ đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 Bộ luật lao động 2019, trừ khi có thỏa thuận khác.
- NLĐ tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên.
- NLĐ cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Bộ luật lao động 2019 khi giao kết HĐLĐ làm ảnh hưởng đến tuyển dụng NLĐ.
5. Trường hợp NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HĐLĐ mà không cần báo trước
- Theo quy định tại Khoản 3 Điều 36 Bộ luật lao động 2019 thì NSDLĐ có quyền đơn phương chấm dứt HDLĐ không cần báo trước trong trường hợp sau đây: (hiện hành không quy định)
- NLĐ không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 Bộ luật lao động 2019.
- NLĐ tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên.
6. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật
6.1. Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái luật là gì?
Đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động có thể là luật pháp đúng đắn hoặc trái pháp luật dựa trên các quy định của pháp luật.
Trước đó là sự đôi nét về đơn phương chấm dứt hợp đồng đồng động. Đây là trường hợp đồng người lao động hoặc người lao động tự mình chấm dứt hiệu quả của hợp đồng lao động đã được hai bên đồng ý, giao kết. Tất cả các điều khoản trong đồng đều không còn là cơ bản để thực hiện các hoạt động bắt buộc.
Trong đó, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật là người lao động hoặc người sử dụng lao động chấm dứt hợp đồng lao động không khuyến thủ các trường hợp pháp mà luật pháp cho phép mỗi người được quyền đơn phương chấm dứt.
6.2. Hậu quả pháp lý khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật
Người lao động hay người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng đồng động trái pháp luật thì phải thực hiện các nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Cụ thể như sau:
* Đối với trường hợp lệ của người sử dụng lao động
Căn cứ Điều 41 quy định về nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng đồng động trái luật. Người sử dụng đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật phải thu người lao động trở lại làm việc theo hợp đồng lao động đã giao kết và phải trả tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng đồng với ít nhất 02 tháng tiền lương theo HĐLĐ.
- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc
Ngoài khoản tiền bồi thường là 02 tháng tiền lương theo đồng lao động, người sử dụng lao động phải trả tiền hỗ trợ thôi cho người lao động.
- Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý
Người lao động được nhận tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương và trợ cấp thôi việc.
Người lao động và người sử dụng lao động thỏa thuận khoản tiền bồi thường ít nhất nhưng ít nhất phải bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng đồng lao động.
- Trường hợp không còn vị trí, công việc đã được giao kết trong đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc
Người lao động được nhận tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế trong những ngày người lao động không được làm việc cộng với ít nhất 02 tháng tiền lương và hai khoản thương mại để sửa đổi, bổ sung hợp đồng đồng lao động.
Lưu ý: Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước thì phải bồi thường cho người lao động một khoản tiền tương ứng với tiền lương của người lao động trong những ngày không báo trước.
* Argument for the field of your lao động
Người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng trái pháp luật sẽ phải thực hiện nghĩa vụ quy định tại Điều 40 Bộ luật lao động 2019.
- Không thể ngừng hoạt động được hỗ trợ.
- Phải bồi thường thường xuyên cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động và một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
- Phải hoàn trả cho người sử dụng lao động chi phí đào tạo quy định tại Điều 62 của Bộ luật này.
Theo đó, người lao động sẽ không được hỗ trợ thôi việc và phải bồi thường thường xuyên cho người sử dụng lao động nửa tháng tiền lương theo hợp đồng lao động.
Trên đây là những ý kiến chúng tôi giải đáp rải rác về các vấn đề đơn phương chấm dứt hợp nhất lao động theo quy định pháp luật hiện hành. Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam vui mừng đồng hành cùng khách hàng trong việc giải quyết mọi vấn đề pháp lý. Hãy liên hệ với chúng tôi để được sử dụng dịch vụ tư vấn tốt nhất.
(Đức Cường)
Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam
Địa chỉ: Tầng 15, Tòa nhà đa năng, Số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội.
ĐT: 0989.386.729; Email: htcvn.law@gmail.com
Trang web: https://htc-law.com ; https://luatsuchoban.vn
Bài viết liên quan:


