CÔNG TY TỰ Ý HỦY BỎ HỢP ĐỒNG THÌ TÔI CÓ ĐƯỢC HƯỞNG QUYỀN LỢI GÌ?
Trong quá trình thực hiện hợp đồng đồng lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động, trong một số trường hợp hợp lý vì một số lý do mà người lao động phải tạm thời thực hiện hợp đồng đồng lao động. Đặc biệt, trong thời gian gần đây, tình hình dịch bệnh kéo dài đến các doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề theo tình trạng chấm dứt hợp đồng lao động, tạm dừng đồng động lao động giữa người lao động và người sử dụng lao động ngày càng gia tăng. Vì vậy, trong trường hợp công ty tự động hủy hợp đồng thì cá nhân lao động sẽ được hưởng quyền lợi gì? Đây là câu hỏi rất được nhiều người lao động và người sử dụng lao động quan tâm. Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam sẽ đồng hành cùng bạn giải đáp những thắc mắc trong bài viết sau đây.
I, Cơ sở pháp lý
Bộ luật Lào động năm 2019
II, Nội dung tư vấn
1, Hợp đồng lao động
Căn cứ theo điều điều 13 Luật Lao động 2019, Hợp đồng lao động là sự đồng ý giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có công, tiền lương, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.
Trường hợp hai bên đồng ý bằng cách gọi tên khác nhưng có nội dung có thể thực hiện công việc trả công, tiền lương và sự quản lý, điều hành, giám sát của một bên thì được coi là hợp đồng lao động.
Từ đó, ta đã tìm thấy những đặc điểm cơ bản của hợp đồng lao động, cụ thể như sau:
Trước hết là sự tự nguyện, bình đẳng, thiện chí và hợp tác. Rõ ràng đã nhận thấy hợp đồng là sự đồng ý bình đẳng giữa các bên vì vậy dẫn đến việc ký kết hợp đồng, hai bên cần tự nguyện, thiện chí và tôn trọng các bên.
Thứ hai là tự động thực hiện đồng kết hợp. Ở đây chúng tôi hiểu rằng hai bên được tự động thực hiện giao kết hợp đồng lao đồng tuy nhiên không được vượt quá cho phép, nói khác là không được làm trái với pháp luật, đồng thuận lao động hay chuẩn mực đạo đức, xã hội.
2, Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động
Căn cứ theo Điều 36 Bộ Luật Lao Động 2019, đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động của người sử dụng lao động được quy định như sau:
- Người lao động thường xuyên không hoàn thành công việc hợp đồng lao động được xác định theo tiêu chuẩn đánh giá mức độ hoàn thành công việc trong chế độ của người sử dụng lao động. Quy chế đánh giá mức độ hoàn thành công việc của người sử dụng lao động ban hành động nhưng phải tham khảo ý kiến kiến trúc của người lao động đại diện tại cơ sở đối với nơi có người lao động đại diện tại cơ sở;
- Người lao động bị đau, tai nạn đã điều trị 12 tháng liên tục đối với người làm việc hợp đồng lao động không xác định thời hạn hoặc đã điều trị 06 tháng liên tục đối với người làm việc hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng hoặc quá nửa thời hạn đồng lao động đối với người làm việc hợp đồng lao động xác định thời hạn có thời hạn dưới 12 tháng mà lao động chưa hồi phục.
Khi sức khỏe của người lao động bình phục thì người sử dụng lao động xem xét để tiếp tục giao tiếp hợp đồng đồng lao động với người lao động;
- Do thiên tai, hỏa hoạn, dịch bệnh nguy hiểm, đua tranh hoặc di chuyển, thu gọn sản phẩm, kinh doanh theo yêu cầu của cơ quan nhà nước có thẩm quyền mà người sử dụng lao động đã tìm mọi giải pháp giải quyết nhưng vẫn buộc phải giảm bớt công việc;
- Người lao động không có mặt tại nơi làm việc sau thời hạn quy định tại Điều 31 của Bộ luật này;
- Người lao động đủ tuổi nghỉ hưu theo quy định tại Điều 169 của Bộ luật này, trừ khi có thỏa thuận khác;
- Người lao động tự ý bỏ việc mà không có lý do chính đáng từ 05 ngày làm việc liên tục trở lên;
- Người lao động cung cấp không trung thực thông tin theo quy định tại khoản 2 Điều 16 của Bộ luật này khi giao dịch hợp đồng lao động tạo ảnh hưởng đến việc tuyển dụng người lao động.
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trong trường hợp quy định tại các điểm a, b, c, đ và g khoản 1 Điều 36 Bộ Luật Lao động 2019, người sử dụng lao động phải báo trước cho người lao động như sau:
- Tối thiểu 45 ngày để hợp đồng lao động không xác định thời hạn;
- Tối thiểu 30 ngày để hợp đồng lao động xác định thời hạn từ 12 tháng đến 36 tháng;
- Ít nhất 03 ngày làm việc để hợp đồng lao động xác định thời hạn dưới 12 tháng và đối với trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 Bộ Luật Lao động 2019;
- Đối với một số ngành, nghề, công việc đặc thù thì thời hạn báo trước được thực hiện theo quy định của phủ Chính.
Khi đơn phương chấm dứt hợp đồng quy định lao động tại điểm d và điểm e khoản 1 Điều này thì người sử dụng lao động không phải báo trước cho người lao động.
Theo đó, quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng của người sử dụng lao động được quy định như trên để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người sử dụng tránh tránh những sai sót của người lao động gây ra ảnh hưởng tới công ty, người sử dụng lao động. Bên cạnh đó người sử dụng lao động không được thực hiện quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động với người lao động, được quy định trong BLLĐ 2019 như sau:
- Người lao động đau hoặc bệnh tai nạn, bệnh nghề nghiệp đang điều trị, điều dưỡng theo định nghĩa của cơ sở y tế, chữa bệnh có thẩm quyền, trừ trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 36 của Bộ luật này.
- Người lao động đang nghỉ năm, nghỉ việc riêng và trường hợp nghỉ khác được người sử dụng lao động đồng ý.
- Người lao động nữ mang thai; người lao động đang nghỉ sản sản phẩm hoặc nuôi con dưới 12 tháng tuổi.
3. Nghĩa vụ của người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật.
Căn cứ theo Điều 41 Bộ Luật Lao Động 2019, người sử dụng lao động khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải thực hiện nghĩa vụ sau:
- Phải nhận người lao động trở lại làm việc theo giao dịch hợp đồng lao động; phải trả tiền lương, đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp trong những ngày người lao động không làm việc và phải trả thêm cho người lao động một khoản tiền ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động. Sau khi được nhận lại công việc, người lao động hoàn thành việc thanh toán cho người sử dụng lao động các tài khoản hỗ trợ tiền cung cấp ngừng hoạt động, được hỗ trợ mất việc làm nếu người sử dụng lao động đã nhận được. Trường hợp không còn vị trí, công việc đã giao kết hợp đồng lao động mà người lao động vẫn muốn làm việc thì hai bên đồng ý sửa đổi, bổ sung hợp lý đồng lao động. Trường hợp vi phạm quy định về thời hạn báo trước quy định tại khoản 2 Điều 36 của Bộ luật này thì phải trả một khoản tiền tương ứng với tiền lương theo hợp đồng lao động trong những ngày không báo trước.
- Trường hợp người lao động không muốn tiếp tục làm việc thì ngoài khoản tiền phải trả quy định tại tài khoản 1 Điều này người sử dụng lao động phải trả cấp thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này để chấm dứt hợp đồng đồng lao động.
- Trường hợp người sử dụng lao động không muốn nhận lại người lao động và người lao động đồng ý thì ngoài khoản tiền người sử dụng lao động phải thanh toán theo quy định tại khoản 1 Điều này và hỗ trợ thôi việc theo quy định tại Điều 46 của Bộ luật này, hai bên thỏa thuận tài khoản bổ sung thường xuyên bổ sung cho người lao động nhưng ít nhất bằng 02 tháng tiền lương theo hợp đồng lao động để chấm dứt hợp đồng đồng lao động.
Như vậy, người sử dụng đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật thì phải thực hiện các nghĩa vụ như đối với người lao động.
Trên đây là những ý kiến của chúng tôi tư vấn về lĩnh vực lao động khi người lao động đơn phương chấm dứt hợp đồng đồng lao động, người lao động sẽ được hưởng quyền lợi gì? Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam vui mừng đồng hành cùng khách hàng trong việc giải quyết mọi vấn đề pháp lý. Hãy liên hệ với chúng tôi để được sử dụng dịch vụ tư vấn tốt nhất.
(Đức Cường)
Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam
Địa chỉ: Tầng 15, Tòa nhà đa năng, Số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, Phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội.
ĐT: 0989.386.729; Email: htcvn.law@gmail.com
Trang web: https://htc-law.com ; https://luatsuchoban.vn
Bài viết liên quan:
Thời hạn giải quyết tranh chấp chấp nhận lao động
Giải thích tranh chấp lao động cá nhân quyết định
Tư vấn vấn đề tranh chấp khi đơn phương chấm dứt hợp đồng lao động trái pháp luật và làm thêm giờ


