Trang chủ

NƠI YÊN TÂM ĐỂ CHIA SẺ VÀ ỦY THÁC

HTC Việt Nam mang đến "Hạnh phúc -Thành công - Cường thịnh"

Tư vấn pháp luật 24/24

Luật sư có trình độ chuyên môn cao

324

TRAO NIỀM TIN - NHẬN HẠNH PHÚC

CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ TỐT NHẤT

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

giảm thiếu chi phí- tiết kiệm thời gian

Mạo danh người khác để lừa tiền: Khung hình phạt ra sao?

Trong thời đại số, các chiêu trò mạo danh người thân, cơ quan nhà nước, nhân viên ngân hàng hay doanh nghiệp để chiếm đoạt tài sản ngày càng tinh vi, khiến nhiều người sập bẫy và chịu thiệt hại lớn về tài chính. Hành vi mạo danh nhằm lừa tiền không chỉ xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức mà còn có thể bị xử lý nghiêm theo quy định của pháp luật hình sự. Vậy người thực hiện hành vi mạo danh để lừa tiền sẽ phải đối mặt với khung hình phạt như thế nào? Bài viết dưới đây của Công ty Luật TNHH HTC sẽ phân tích các quy định pháp luật hiện hành giúp bạn nhận diện, phòng tránh cũng như hiểu rõ chế tài áp dụng đối với hành vi này.

1. Thế nào là mạo danh người khác để lừa tiền?

1.1. Khái niệm

“Mạo danh người khác để lừa tiền” là hành vi của 1 cá nhân cố ý sử dụng danh tính, thông tin hoặc hình ảnh của người khác nhằm tạo dựng lòng tin với nạn nhân, từ đó chiếm đoạt tài sản thông qua các thủ đoạn gian dối. Hành vi này có thể được thực hiện bằng nhiều hình thức khác nhau như giả mạo tài khoản mạng xã hội, sử dụng số điện thoại giả, làm giả giấy tờ, giả danh cơ quan nhà nước hoặc doanh nghiệp để yêu cầu chuyển tiền.

Trên thực tế, pháp luật Việt Nam hiện nay không quy định một tội danh riêng đối với hành vi “mạo danh người khác để lừa tiền”. Tuy nhiên, nếu người thực hiện hành vi mạo danh nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản thì tùy từng trường hợp, họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Bộ luật Hình sự.

Điểm cốt lõi của hành vi này là việc người phạm tội cố ý đưa ra thông tin sai sự thật hoặc tạo ra một danh tính giả khiến nạn nhân tin tưởng và tự nguyện giao tiền hoặc tài sản. Chính sự gian dối này là cơ sở để hành vi bị xử lý theo quy định của pháp luật.

1.2. Dấu hiệu nhận biết

Không phải mọi hành vi sử dụng tên hoặc hình ảnh của người khác đều cấu thành tội phạm. Để xác định một hành vi có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản hay không, cần xem xét các đặc điểm sau:

- Có hành vi giả mạo danh tính, thông tin hoặc tư cách của cá nhân, tổ chức khác nhằm tạo dựng sự tin tưởng.

- Cung cấp thông tin gian dối khiến người bị hại hiểu sai bản chất sự việc.

- Có mục đích chiếm đoạt tài sản, thể hiện qua việc yêu cầu nạn nhân chuyển tiền, giao tài sản hoặc cung cấp thông tin tài khoản ngân hàng.

- Người bị hại tin tưởng và giao tài sản do bị tác động bởi các thông tin gian dối mà đối tượng đưa ra.

- Đối tượng chiếm đoạt được tài sản hoặc có ý định chiếm đoạt, dù trong một số trường hợp hành vi có thể bị phát hiện trước khi hoàn thành.

Có thể thấy, yếu tố quyết định để phân biệt giữa hành vi mạo danh thông thường và hành vi phạm tội chính là mục đích chiếm đoạt tài sản. Nếu việc mạo danh chỉ nhằm mục đích trêu đùa, sử dụng biệt danh hoặc không hướng đến việc chiếm đoạt tài sản thì chưa đủ căn cứ để xử lý về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dù trong một số trường hợp vẫn có thể bị xử lý theo quy định của pháp luật về dân sự hoặc xử phạt vi phạm hành chính nếu xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của người khác.

2. Mạo danh người khác để lừa tiền có phạm tội không?

Câu trả lời là có, nếu hành vi mạo danh được thực hiện nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản và đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của Bộ luật Hình sự.

Trên thực tế, nhiều người cho rằng chỉ cần sử dụng tài khoản Facebook giả hoặc giả danh người khác để nhắn tin vay tiền thì đã mặc nhiên phạm tội. Tuy nhiên, dưới góc độ pháp lý, việc xác định trách nhiệm hình sự phải căn cứ vào mục đích thực hiện hành vi, thủ đoạn gian dối và hậu quả mà hành vi gây ra.

2.1. Căn cứ pháp lý

Theo quy định của Bộ luật Hình sự, Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xác định khi người phạm tội sử dụng thủ đoạn gian dối làm cho người khác tin tưởng và tự nguyện giao tài sản để chiếm đoạt. Trong đó, hành vi mạo danh người khác chính là một trong những thủ đoạn gian dối thường được sử dụng để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản. Ví dụ:

- Giả mạo tài khoản Facebook của người thân để nhắn tin vay tiền.

- Giả danh cán bộ công an yêu cầu chuyển tiền phục vụ điều tra.

- Giả danh nhân viên ngân hàng yêu cầu cung cấp mã OTP để chiếm đoạt tiền trong tài khoản.

- Giả danh luật sư hoặc nhân viên doanh nghiệp nhằm thu phí dịch vụ không có thật.

Trong các trường hợp trên việc mạo danh không phải là hành vi bị xử lý độc lập mà là phương thức thực hiện hành vi lừa đảo nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác.

2.2. Khi nào hành vi mạo danh bị truy cứu trách nhiệm hình sự?

Một người có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi có đủ các dấu hiệu cơ bản sau:

- Thứ nhất, có hành vi gian dối: Người phạm tội cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật hoặc giả mạo danh tính nhằm tạo lòng tin đối với người bị hại.

- Thứ hai, người bị hại tin tưởng và giao tài sản: Việc chuyển tiền hoặc giao tài sản phải xuất phát từ sự tin tưởng vào những thông tin gian dối mà người phạm tội đưa ra.

- Thứ ba, người phạm tội có mục đích chiếm đoạt tài sản: Đây là dấu hiệu quan trọng nhất để phân biệt hành vi phạm tội với những hành vi giả mạo thông thường không nhằm mục đích chiếm đoạt.

- Thứ tư, đáp ứng điều kiện xử lý hình sự theo quy định của pháp luật: Tùy từng trường hợp cụ thể, nếu giá trị tài sản bị chiếm đoạt hoặc các tình tiết khác đáp ứng điều kiện luật định thì người thực hiện hành vi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Trường hợp chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm, người vi phạm vẫn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc phải bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật.

Như vậy, không phải mọi hành vi mạo danh đều bị xử lý hình sự. Chỉ khi việc mạo danh được sử dụng như một thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác thì người thực hiện mới có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

3. Khung hình phạt

Thứ nhất, xử phạt cải cách không giam giữ đến 3 năm hoặc phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm. Người dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng và thuộc một trong các trường hợp sau:

+ Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về việc chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm.

+ Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 175 và 290 của Bộ luật hình sự 2015, chưa xóa được án tích mà còn vi phạm.

+ Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

+ Tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, tài sản là kỷ vật, di vật, đồ thờ cúng có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại.

Thứ hai, phạt tù từ 2 năm đến 7 năm với một trong các trường hợp:

+ Có tổ chức.

+ Có tính chất chuyên nghiệp.

+ Kiếm tiền tài sản giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng.

+ Tái phạm nguy hiểm.

+ Lợi ích chức năng, quyền hạn hoặc lợi ích danh nghĩa cơ quan, tổ chức.

+ Sử dụng thủ đoạn thủ thuật.

+ Kiếm tiền tài sản giá trị từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự 2015.

Thứ ba, phạt tù từ 7 năm đến 15 năm trong các trường hợp:

+ Kiếm tiền tài sản giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng.

+ Kiếm tiền tài sản giá trị từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d tài khoản 1 Điều này.

+ Lợi ích thiên tai, dịch bệnh.

Thứ tư, phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung trong trường hợp:

+ bảo vệ tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên.

+ Kiếm tiền tài sản giá trị từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm a, b, c và d Tài khoản 1 Điều này.

+ Lợi ích hoàn cảnh chiến tranh, tình trạng khẩn cấp.

Ngoài các mức phạt chính nêu trên, tội phạm còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, vi phạm pháp luật, cấm hành vi nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

4. Ngoài trách nhiệm hình sự, người vi phạm còn phải chịu trách nhiệm gì?

4.1. Nghĩa vụ hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt

Nguyên tắc chung của pháp luật là người có hành vi xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác phải hoàn trả tài sản đã chiếm đoạt hoặc bồi thường bằng giá trị tương ứng nếu không thể hoàn trả bằng hiện vật. Theo đó, người phạm tội có trách nhiệm:

- Hoàn trả toàn bộ số tiền hoặc tài sản đã chiếm đoạt cho người bị hại;

- Trường hợp tài sản không còn hoặc không thể hoàn trả thì phải thanh toán giá trị tương ứng;

- Hoàn trả các khoản lợi ích phát sinh từ tài sản chiếm đoạt (nếu có) theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình giải quyết vụ án hình sự, cơ quan tiến hành tố tụng sẽ xem xét việc thu hồi tài sản do phạm tội mà có để trả lại cho chủ sở hữu hoặc người quản lý hợp pháp.

4.2. Bồi thường thiệt hại phát sinh

Ngoài việc hoàn trả số tiền đã chiếm đoạt, nếu hành vi lừa đảo gây ra những thiệt hại thực tế khác thì người vi phạm còn có trách nhiệm bồi thường theo quy định của pháp luật dân sự. Tùy từng trường hợp, các khoản bồi thường có thể bao gồm:

- Chi phí hợp lý để ngăn chặn, hạn chế hoặc khắc phục thiệt hại;

- Chi phí đi lại, lưu trú hoặc các khoản chi phí cần thiết phục vụ việc giải quyết vụ việc;

- Thiệt hại về tài sản phát sinh trực tiếp từ hành vi lừa đảo;

- Các khoản thiệt hại khác nếu người bị hại chứng minh được theo quy định của pháp luật.

Ví dụ, nếu người bị hại phải bỏ chi phí để thu thập chứng cứ, thực hiện các thủ tục cần thiết hoặc phát sinh những tổn thất tài sản khác do hành vi lừa đảo gây ra thì có thể yêu cầu bồi thường khi có căn cứ pháp lý.

__________________________________

Cam kết chất lượng dịch vụ:

Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam hoạt động với phương châm tận tâm – hiệu quả – uy tín, cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ, cụ thể như sau:

- Đảm bảo thực hiện công việc theo đúng tiến độ đã thỏa thuận, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật, đúng với quy tắc đạo đức và ứng xử của Luật sư Việt Nam.

- Đặt quyền lợi khách hàng lên hàng đầu, nỗ lực hết mình để mang đến cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất.

- Bảo mật thông tin mà khách hàng cung cấp, các thông tin liên quan đến khách hàng.

Rất mong được hợp tác lâu dài cùng sự phát triển của Quý Khách hàng.

Trân trọng!

(Người viết: Nguyễn Mai Ninh; Ngày viết: 24/7/2026)

___________________________________

Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:

Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam

Địa chỉ: P401, Tầng 4, Tòa nhà đa năng, số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội.

Điện thoại: 0989.386.729

Email: hotmail@htcvn.vn

Website: https://htcvn.vn; https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn

___________________________________

Các bài viết liên quan:

- Tư vấn mức xử phạt đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Bị hack tài khoản để đi lừa người khác: Có phải chịu trách nhiệm không?

- Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

- Tội chiếm đoạt tài sản: Quy định pháp luật và cách thoát tội

- Các bước xử lý khi bị khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản




Gọi ngay

Zalo