Căn cứ khởi tố pháp nhân thương mại theo Bộ luật Hình sự: Phân tích từ thực tiễn điều tra
1. Cơ sở pháp lý về trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
Theo Điều 75 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự khi thỏa mãn đồng thời các điều kiện sau:
- Hành vi phạm tội được thực hiện nhân danh pháp nhân thương mại;
- Hành vi phạm tội được thực hiện vì lợi ích của pháp nhân thương mại;
- Hành vi phạm tội được thực hiện có sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận của pháp nhân thương mại;
- Chưa hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đây là bốn điều kiện bắt buộc và có tính đồng thời. Thiếu một trong các điều kiện này thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân.
Ngoài ra, pháp nhân thương mại chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự đối với các tội danh được liệt kê tại Điều 76 Bộ luật Hình sự, chủ yếu tập trung vào các tội về kinh tế, môi trường, thuế, chứng khoán, cạnh tranh, rửa tiền và một số tội xâm phạm trật tự quản lý kinh tế.

2. Khi nào cơ quan điều tra có căn cứ khởi tố pháp nhân thương mại?
Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, căn cứ khởi tố vụ án hình sự là khi có dấu hiệu tội phạm. Đối với pháp nhân thương mại, cơ quan điều tra không chỉ xác định dấu hiệu tội phạm nói chung mà còn phải chứng minh rõ các điều kiện tại Điều 75 nêu trên.
2.1. Xác định hành vi nhân danh pháp nhân
Trong thực tiễn, cơ quan điều tra thường xem xét liệu người thực hiện hành vi có đang thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được giao trong khuôn khổ hoạt động của doanh nghiệp hay không. Nếu hành vi được thực hiện ngoài phạm vi công việc, vì lợi ích cá nhân thuần túy, thì trách nhiệm hình sự có thể chỉ đặt ra đối với cá nhân đó, không phải pháp nhân.
2.2. Chứng minh lợi ích của pháp nhân
Một yếu tố quan trọng là hành vi phải nhằm mang lại lợi ích cho pháp nhân, chẳng hạn tăng doanh thu, giảm chi phí, trốn thuế, hợp thức hóa dòng tiền, nâng cao lợi thế cạnh tranh. Nếu hành vi gây thiệt hại cho chính pháp nhân hoặc không đem lại lợi ích nào, thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân sẽ gặp khó khăn về căn cứ pháp lý.
2.3. Sự chỉ đạo, điều hành hoặc chấp thuận
Cơ quan điều tra sẽ đánh giá vai trò của người đại diện theo pháp luật, hội đồng quản trị, ban giám đốc hoặc người có thẩm quyền quản lý. Việc tồn tại văn bản chỉ đạo, nghị quyết nội bộ, email điều hành, hoặc cơ chế kiểm soát lỏng lẻo có thể là căn cứ chứng minh sự chấp thuận hoặc buông lỏng quản lý dẫn đến hành vi phạm tội.
3. Phân biệt trách nhiệm của pháp nhân và cá nhân quản lý
Pháp luật hiện hành cho phép truy cứu đồng thời trách nhiệm hình sự đối với pháp nhân và cá nhân liên quan nếu đủ yếu tố cấu thành tội phạm. Việc pháp nhân bị khởi tố không loại trừ trách nhiệm của giám đốc, kế toán trưởng hoặc người trực tiếp thực hiện hành vi.
Ngược lại, nếu cá nhân thực hiện hành vi hoàn toàn vì mục đích cá nhân, trái với chỉ đạo của doanh nghiệp và doanh nghiệp không hưởng lợi, thì pháp nhân có thể không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
4. Thực tiễn điều tra: Những dấu hiệu doanh nghiệp không nên xem nhẹ
Qua thực tiễn xử lý các vụ án kinh tế, môi trường và thuế, cơ quan điều tra thường tập trung vào các dấu hiệu như:
- Hệ thống quản trị nội bộ thiếu kiểm soát
- Có cơ chế hợp thức hóa hành vi sai phạm
- Dòng tiền bất thường gắn với hoạt động của doanh nghiệp
- Tồn tại lợi ích trực tiếp hoặc gián tiếp cho pháp nhân
Việc doanh nghiệp chủ động khắc phục hậu quả, hợp tác điều tra, nộp lại số tiền thu lợi bất chính có thể được xem xét là tình tiết giảm nhẹ theo quy định của Bộ luật Hình sự.
5. Doanh nghiệp cần làm gì khi có nguy cơ bị khởi tố?
Khi có dấu hiệu bị điều tra, doanh nghiệp cần rà soát toàn bộ hồ sơ nội bộ, hệ thống quản trị, quy trình phê duyệt và chứng cứ thể hiện phạm vi ủy quyền. Việc đánh giá sớm các yếu tố tại Điều 75 là cần thiết để xác định liệu có đủ căn cứ khởi tố pháp nhân hay chỉ là trách nhiệm cá nhân.
Sự tham gia của luật sư ngay từ giai đoạn xác minh nguồn tin về tội phạm có ý nghĩa quan trọng trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp của doanh nghiệp và hạn chế rủi ro pháp lý lan rộng.
Kết luận
Khởi tố pháp nhân thương mại là bước tố tụng nghiêm trọng, chỉ được thực hiện khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện chặt chẽ theo Bộ luật Hình sự và Bộ luật Tố tụng hình sự. Doanh nghiệp không chỉ cần hiểu rõ căn cứ pháp lý mà còn phải xây dựng cơ chế quản trị và kiểm soát nội bộ phù hợp để phòng ngừa rủi ro hình sự trong hoạt động kinh doanh.
Trên đây là toàn bộ nội dung tư vấn của chúng tôi về Căn cứ khởi tố pháp nhân thương mại. Mong rằng qua bài viết, công ty của chúng tôi đã có thể giúp bạn giải đáp được phần nào băn khoăn, thắc mắc và giúp bạn có thể nắm được những nội dung cơ bản về vấn đề này.
____________________________________
Cam kết chất lượng dịch vụ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam hoạt động với phương châm tận tâm – hiệu quả – uy tín, cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ, cụ thể như sau:
- Đảm bảo thực hiện công việc theo đúng tiến độ đã thỏa thuận, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật, đúng với quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư Việt Nam.
- Đặt quyền lợi khách hàng lên hàng đầu, nỗ lực hết mình để mang đến cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất.
- Bảo mật thông tin mà khách hàng cung cấp, các thông tin liên quan đến khách hàng.
Rất mong được hợp tác lâu dài cùng sự phát triển của Quý Khách hàng.
Trân trọng!
(Người viết: Nguyễn Thị Hương Lan; Ngày viết: 11/02/2026)
________________________________________
Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam
Địa chỉ: Tầng 15, Tòa nhà đa năng, Số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội.
ĐT: 0989.386.729
Email: hotmail@htcvn.vn
Website: https://htc-law.com ; https://htcvn.vn ; https://luatsuchoban.vn
________________________________________
Xem thêm các bài viết liên quan
- Những lưu ý về pháp nhân thương mại của doanh nghiệp
- Trách nhiệm bồi thường thiệt hại do người của pháp nhân gây ra
- Trách nhiệm hình sự của pháp nhân thương mại
- Pháp nhân có quyền nhân thân không?
- Quy định pháp luật dân sự về các điều kiện để trở thành pháp nhân


