Tố giác sai sự thật: Nguy cơ bị xử lý ngược và trách nhiệm pháp lý
Quyền tố giác tội phạm là công cụ quan trọng giúp cơ quan nhà nước phát hiện và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, việc cố ý tố giác sai sự thật, bịa đặt thông tin hoặc cung cấp thông tin không có căn cứ có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến danh dự, uy tín, quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị tố giác. Vậy trong trường hợp bị tố giác không đúng sự thật, cá nhân, tổ chức cần thực hiện các biện pháp pháp lý gì để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình? Bài viết dưới đây của Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam sẽ phân tích các quy định pháp luật hiện hành và những lưu ý quan trọng giúp cá nhân, doanh nghiệp nhận diện đầy đủ các trách nhiệm pháp lý phát sinh từ hành vi tố giác sai sự thật.
1. Quy định pháp luật về tố giác tội phạm
1.1 Khái niệm tố giác tội phạm
Theo quy định tại Điều 144 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố là những nguồn thông tin quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét, phát hiện và xử lý các hành vi có dấu hiệu tội phạm. Trong đó, khoản 1 Điều 144 quy định tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm đến cơ quan có thẩm quyền.
Có thể hiểu, tố giác tội phạm là việc một cá nhân, trên cơ sở những thông tin hoặc sự việc mà mình biết được, chủ động thông báo cho cơ quan có thẩm quyền về hành vi mà họ cho rằng có dấu hiệu vi phạm pháp luật hình sự. Người dân có thể thực hiện việc tố giác bằng nhiều hình thức khác nhau, bao gồm tố giác trực tiếp bằng lời nói hoặc gửi đơn, văn bản đến cơ quan có thẩm quyền để trình bày nội dung vụ việc.
1.2 Tố giác tội phạm có phải là căn cứ khởi tố vụ án hình sự
Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định việc khởi tố vụ án hình sự chỉ được thực hiện khi đã xác định có dấu hiệu của tội phạm. Để xác định dấu hiệu tội phạm, cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng phải căn cứ vào các nguồn thông tin và tài liệu theo quy định của pháp luật.
Cụ thể, dấu hiệu tội phạm có thể được xác định từ tố giác của cá nhân; tin báo do cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân cung cấp; các thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm được đăng tải trên phương tiện thông tin đại chúng; kiến nghị khởi tố của cơ quan nhà nước; trường hợp cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng trực tiếp phát hiện dấu hiệu tội phạm trong quá trình thực hiện nhiệm vụ; hoặc từ việc người phạm tội tự thú và khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Như vậy, tố giác của cá nhân là một trong những căn cứ quan trọng để cơ quan có thẩm quyền xem xét, xác minh và đánh giá sự tồn tại của dấu hiệu tội phạm. Nếu qua quá trình kiểm tra, xác minh, cơ quan tiến hành tố tụng xác định thông tin tố giác có căn cứ và thể hiện dấu hiệu của tội phạm thì đây có thể là cơ sở để ra quyết định khởi tố vụ án hình sự theo quy định của pháp luật.
1.3 Cơ quan tiếp nhận tố giác tội phạm
Điều 145 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 quy định rõ trách nhiệm tiếp nhận và thẩm quyền giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố. Theo đó, mọi tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố đều phải được các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận đầy đủ và giải quyết kịp thời theo quy định của pháp luật. Các cơ quan, tổ chức có trách nhiệm tiếp nhận không được từ chối việc tiếp nhận các thông tin này dưới bất kỳ hình thức nào.
Về trách nhiệm tiếp nhận, pháp luật quy định cơ quan điều tra và Viện kiểm sát có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố. Bên cạnh đó, các cơ quan, tổ chức khác cũng có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm khi người dân cung cấp thông tin.
Đối với thẩm quyền giải quyết, cơ quan điều tra có trách nhiệm giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm và kiến nghị khởi tố thuộc phạm vi thẩm quyền điều tra của mình. Các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra cũng có thẩm quyền giải quyết theo phạm vi được pháp luật giao. Trong trường hợp phát hiện cơ quan điều tra hoặc cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra có vi phạm nghiêm trọng trong quá trình kiểm tra, xác minh tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hoặc có dấu hiệu bỏ lọt tội phạm mà không khắc phục theo yêu cầu bằng văn bản của Viện kiểm sát, thì Viện kiểm sát có thẩm quyền trực tiếp giải quyết vụ việc.
Ngoài ra, sau khi có kết quả giải quyết, cơ quan có thẩm quyền còn có trách nhiệm thông báo kết quả cho cá nhân, cơ quan hoặc tổ chức đã thực hiện việc tố giác, báo tin về tội phạm hoặc kiến nghị khởi tố.
Như vậy, theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, các cơ quan có trách nhiệm tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm bao gồm cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và các cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật. Đây là cơ sở bảo đảm mọi thông tin về hành vi có dấu hiệu tội phạm đều được tiếp nhận, xem xét và xử lý kịp thời.

2. Trách nhiệm pháp lý khi tố giác sai sự thật
2.1 Trách nhiệm hành chính
Hành vi cố ý tố giác hoặc báo tin về tội phạm sai sự thật không chỉ ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức bị tố giác mà còn có thể bị xử phạt vi phạm hành chính theo quy định tại Điều 9 Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 có hiệu lực từ ngày 01/9/2022.
Cụ thể, người có hành vi cố ý tố giác hoặc báo tin về tội phạm sai sự thật có thể bị phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 5.000.000 đồng. Trường hợp hành vi tố giác, báo tin sai sự thật làm ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan hoặc người có thẩm quyền, hoặc có hành vi lôi kéo, xúi giục, lừa dối, mua chuộc, đe dọa hoặc sử dụng vũ lực nhằm buộc người khác tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật thì mức phạt tiền được áp dụng từ 5.000.000 đồng đến 15.000.000 đồng.
Đối với luật sư, nếu thực hiện các hành vi nêu trên thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 9 Pháp lệnh số 02/2022/UBTVQH15 thì mức xử phạt nghiêm khắc hơn, từ 15.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng. Bên cạnh hình thức phạt tiền, người vi phạm còn có thể bị áp dụng hình thức xử phạt bổ sung là tịch thu tang vật, phương tiện được sử dụng để thực hiện hành vi vi phạm hành chính.
Như vậy, pháp luật hiện hành quy định chế tài tương đối nghiêm khắc đối với hành vi tố giác, báo tin về tội phạm sai sự thật. Tùy theo tính chất, mức độ vi phạm và chủ thể thực hiện hành vi, mức phạt hành chính có thể lên đến 15.000.000 đồng đối với cá nhân thông thường và lên đến 30.000.000 đồng đối với luật sư, đồng thời còn có thể bị áp dụng các biện pháp xử phạt bổ sung theo quy định của pháp luật.
2.2 Trách nhiệm hình sự
Theo quy định tại Điều 156 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, hành vi bịa đặt người khác phạm tội và tố cáo họ trước cơ quan có thẩm quyền là một trong những hành vi cấu thành Tội vu khống.
Tùy thuộc vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và hậu quả gây ra, người phạm tội vu khống có thể phải chịu nhiều mức hình phạt khác nhau. Đối với các trường hợp phạm tội thuộc khung hình phạt tăng nặng, mức hình phạt cao nhất có thể lên đến 07 năm tù.
Bên cạnh hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị áp dụng các hình phạt bổ sung theo quy định của pháp luật, bao gồm phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc cấm làm công việc nhất định trong thời hạn từ 01 năm đến 05 năm.
Như vậy, hành vi cố ý tố giác sai sự thật, bịa đặt việc người khác thực hiện tội phạm không chỉ làm phát sinh trách nhiệm hành chính mà trong nhiều trường hợp còn có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự về Tội vu khống với mức hình phạt rất nghiêm khắc, bao gồm cả hình phạt tù và các hình phạt bổ sung khác theo quy định của Bộ luật Hình sự.
2.3 Các hình thức khác
Đối với cán bộ, công chức và viên chức, hành vi tố cáo sai sự thật không chỉ có thể dẫn đến trách nhiệm hành chính hoặc hình sự mà còn có thể bị xử lý theo quy định về kỷ luật công vụ. Cụ thể, Điều 23 Nghị định số 31/2019/NĐ-CP quy định rằng trường hợp cán bộ, công chức, viên chức biết rõ nội dung tố cáo là không đúng sự thật nhưng vẫn cố tình thực hiện việc tố cáo nhiều lần, hoặc có các hành vi cưỡng ép, lôi kéo, kích động, dụ dỗ, mua chuộc người khác thực hiện việc tố cáo sai sự thật thì bị xem là hành vi vi phạm pháp luật.
Tùy thuộc vào tính chất, mức độ vi phạm và hậu quả do hành vi gây ra, người vi phạm có thể bị áp dụng các hình thức xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức. Trường hợp hành vi có dấu hiệu cấu thành tội phạm thì còn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật hình sự.
Như vậy, pháp luật hiện hành không chỉ xử lý đối với người trực tiếp thực hiện hành vi tố cáo sai sự thật mà còn áp dụng chế tài đối với những trường hợp biết rõ nội dung tố cáo là sai nhưng vẫn cố tình tố cáo hoặc có hành vi tác động, xúi giục, lôi kéo người khác tham gia vào việc tố cáo sai sự thật.
3. Vai trò của luật sư trong giải quyết tình huống
Trước hết, luật sư sẽ tư vấn, đánh giá tính pháp lý của nội dung tố giác, xác định liệu thông tin được cung cấp có dấu hiệu bịa đặt, vu khống hoặc xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức hay không. Trên cơ sở đó, luật sư hướng dẫn khách hàng thu thập, bảo quản và cung cấp các tài liệu, chứng cứ cần thiết để chứng minh sự thật khách quan của vụ việc.
Trong trường hợp cá nhân hoặc doanh nghiệp bị tố giác sai sự thật, luật sư có thể hỗ trợ soạn thảo các văn bản giải trình, đơn kiến nghị, đơn yêu cầu xử lý hành vi vu khống hoặc các tài liệu pháp lý khác gửi đến cơ quan có thẩm quyền nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của khách hàng. Đồng thời, luật sư có thể đại diện hoặc tham gia cùng khách hàng trong quá trình làm việc với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền khác.
Đối với những trường hợp hành vi tố giác sai sự thật có dấu hiệu vi phạm hành chính hoặc có dấu hiệu cấu thành Tội vu khống theo quy định của Bộ luật Hình sự, luật sư sẽ tư vấn các biện pháp pháp lý phù hợp để yêu cầu cơ quan có thẩm quyền xem xét, xử lý người vi phạm theo đúng quy định của pháp luật. Bên cạnh đó, luật sư cũng có thể hỗ trợ khách hàng thực hiện các thủ tục yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất, danh dự, nhân phẩm, uy tín nếu có căn cứ phát sinh trách nhiệm bồi thường.
________________________________________________________
Cam kết chất lượng dịch vụ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam hoạt động với phương châm tận tâm – hiệu quả – uy tín, cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ, cụ thể như sau:
- Đảm bảo thực hiện công việc theo đúng tiến độ đã thỏa thuận, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật, đúng với quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư Việt Nam.
- Đặt quyền lợi khách hàng lên hàng đầu, nỗ lực hết mình để mang đến cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất.
- Bảo mật thông tin mà khách hàng cung cấp, các thông tin liên quan đến khách hàng.
Rất mong được hợp tác lâu dài cùng sự phát triển của Quý Khách hàng.
Trân trọng!
(Người viết: Đỗ Minh Nguyệt; Ngày viết: 15/06/2026)
________________________________________________________
Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam
Địa chỉ: Tòa nhà đa năng, Số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 0989.386.729
Email: hotmail@htcvn.vn
Website: https://htcvn.vn; https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn
________________________________________________________
Xem thêm các bài viết có liên quan:
Đơn tố giác tội phạm theo quy định của pháp luật
Phát hiện hành vi phạm tội thì thực hiện tố giác như thế nào?
Làm gì khi bị người khác xúc phạm danh dự, nhân phẩm
Tổng hợp 20 bản án giải quyết tranh chấp yêu cầu bồi thường thiệt hại về uy tín, danh dự, nhân phẩm
Hình phạt nào cho việc cố ý xúc phạm danh dự nhân phẩm người khác theo quy định của blhs 2015
Bị vu khống trên mạng có kiện được không? Cách xử lý theo quy định pháp luật


