Gây thương tích dưới 11%: Những trường hợp vẫn bị khởi tố hình sự
Nhiều người cho rằng gây thương tích dưới 11% sẽ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, theo quy định của Bộ luật Hình sự, trong một số trường hợp nhất định, người có hành vi cố ý gây thương tích vẫn có thể bị khởi tố dù tỷ lệ tổn thương cơ thể của nạn nhân dưới 11%. Vậy những trường hợp nào gây thương tích dưới 11% vẫn bị xử lý hình sự? Bài viết dưới đây của Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam sẽ giúp bạn hiểu rõ các quy định pháp luật liên quan và những rủi ro pháp lý có thể phát sinh.
1. Quy định pháp luật về Tội cố ý gây thương tích
1.1 Khái niệm Tội cố ý gây thương tích
Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác là hành vi của một người sử dụng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác nhằm cố ý xâm phạm đến sức khỏe của người khác, từ đó gây ra thương tích hoặc làm tổn hại đến sức khỏe của nạn nhân.
Mức độ tổn hại về sức khỏe trong trường hợp này được xác định thông qua tỷ lệ tổn thương cơ thể (thương tật) do cơ quan có thẩm quyền giám định theo quy định của pháp luật.
1.2 Cấu thành tội phạm
Về chủ thể của tội phạm, người thực hiện hành vi phải là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Theo Bộ luật Hình sự, người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự đối với mọi tội phạm. Đối với người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi, trách nhiệm hình sự vẫn có thể được đặt ra nếu hành vi thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng theo quy định của Bộ luật Hình sự.
Về khách thể của tội phạm, hành vi cố ý gây thương tích xâm phạm trực tiếp đến quyền được pháp luật bảo vệ về sức khỏe của con người. Sức khỏe là một trong những quyền nhân thân cơ bản của mỗi cá nhân và được pháp luật bảo vệ. Do đó, mọi hành vi cố ý gây tổn hại đến sức khỏe của người khác trái pháp luật đều có thể bị xem xét xử lý theo quy định. Bên cạnh việc xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân bị hại, hành vi này còn ảnh hưởng đến trật tự, an toàn xã hội và gây tâm lý lo ngại, bất an trong cộng đồng.
Về mặt chủ quan, tội phạm được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý. Người thực hiện hành vi nhận thức được hành vi của mình có khả năng gây thương tích hoặc làm tổn hại đến sức khỏe của người khác nhưng vẫn thực hiện và mong muốn hoặc chấp nhận hậu quả xảy ra. Trên thực tế, động cơ thực hiện hành vi có thể xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như mâu thuẫn cá nhân, tranh chấp tài sản, ghen tuông, trả thù hoặc do tính chất côn đồ. Tuy nhiên, động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc để xác định trách nhiệm hình sự đối với tội danh này.
Về mặt khách quan, tội phạm được thể hiện thông qua hành vi cố ý tác động đến cơ thể của người khác bằng vũ lực hoặc các thủ đoạn khác, dẫn đến việc nạn nhân bị thương tích hoặc bị tổn hại về sức khỏe. Theo quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người thực hiện hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%.
Ngoài ra, mặc dù tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%, người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp đặc biệt mà pháp luật quy định. Các trường hợp này bao gồm việc sử dụng vũ khí, vật liệu nổ hoặc hung khí nguy hiểm; sử dụng axit hoặc hóa chất nguy hiểm; gây thương tích đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ đang mang thai, người già yếu hoặc người không có khả năng tự vệ; gây thương tích cho ông bà, cha mẹ, người nuôi dưỡng, thầy giáo hoặc cô giáo của mình; thực hiện hành vi có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn để thực hiện hành vi; thuê người khác gây thương tích hoặc nhận thuê gây thương tích; thực hiện hành vi có tính chất côn đồ; hoặc gây thương tích đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
1.3 Các khung hình phạt
Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017, quy định nhiều khung hình phạt khác nhau đối với Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác, tùy thuộc vào tỷ lệ tổn thương cơ thể, hậu quả xảy ra cũng như các tình tiết tăng nặng của hành vi phạm tội.
Theo khoản 1 Điều 134, người có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% sẽ bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm. Đáng chú ý, ngay cả khi tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11%, người thực hiện hành vi vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp như sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; sử dụng axit nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; gây thương tích đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là đang mang thai, người già yếu, người ốm đau hoặc người không có khả năng tự vệ; gây thương tích đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo, người nuôi dưỡng hoặc người chữa bệnh cho mình; thực hiện hành vi có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; thực hiện hành vi trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam, đang chấp hành án phạt tù hoặc đang chấp hành các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật; thuê người khác gây thương tích hoặc nhận thuê gây thương tích; thực hiện hành vi có tính chất côn đồ; hoặc gây thương tích đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Theo khoản 2 Điều 134, người phạm tội sẽ bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm nếu thuộc một trong các trường hợp sau: gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây thương tích cho từ hai người trở lên mà mỗi người có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30%; phạm tội từ hai lần trở lên; tái phạm nguy hiểm; hoặc gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng đồng thời thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều 134.
Khoản 3 Điều 134 quy định mức phạt tù từ 05 năm đến 10 năm đối với các trường hợp gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên nhưng không thuộc trường hợp làm biến dạng vùng mặt của nạn nhân; gây thương tích cho từ hai người trở lên mà mỗi người có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%; gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% nhưng thuộc các trường hợp được quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1; hoặc gây thương tích cho từ hai người trở lên mà mỗi người có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% và đồng thời thuộc các trường hợp đặc biệt nêu trên.
Theo khoản 4 Điều 134, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 07 năm đến 14 năm nếu làm chết người; gây thương tích làm biến dạng vùng mặt của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; gây thương tích cho từ hai người trở lên mà mỗi người có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên; gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên và thuộc các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1; hoặc gây thương tích cho từ hai người trở lên mà mỗi người có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60% và đồng thời thuộc các trường hợp đặc biệt theo luật định.
Đối với các trường hợp đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại khoản 5 Điều 134, người phạm tội có thể bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm hoặc tù chung thân nếu làm chết từ hai người trở lên hoặc gây thương tích cho từ hai người trở lên mà mỗi người có tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 61% trở lên và thuộc một trong các trường hợp quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
Ngoài việc xử lý hành vi đã gây ra hậu quả, pháp luật còn xử lý cả hành vi chuẩn bị phạm tội. Theo khoản 6 Điều 134, người nào chuẩn bị vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm, axit nguy hiểm, hóa chất nguy hiểm hoặc thành lập, tham gia nhóm tội phạm nhằm mục đích gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác thì có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến 02 năm hoặc phạt tù từ 03 tháng đến 02 năm.
2. Trường hợp gây thương tích dưới 11% có bị truy tố trách nhiệm hình sự không?
Mặc dù thông thường hành vi gây thương tích chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự khi tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% trở lên, nhưng pháp luật hình sự hiện hành vẫn quy định nhiều trường hợp ngoại lệ. Theo Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, người thực hiện hành vi gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% vẫn có thể bị khởi tố và truy cứu trách nhiệm hình sự nếu thuộc một trong các trường hợp được quy định từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này.
Cụ thể, trách nhiệm hình sự vẫn có thể được đặt ra khi người phạm tội sử dụng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người; sử dụng axit nguy hiểm hoặc hóa chất nguy hiểm; gây thương tích đối với người dưới 16 tuổi, phụ nữ mà biết là có thai, người già yếu, người ốm đau hoặc người không có khả năng tự vệ; gây thương tích đối với ông, bà, cha, mẹ, thầy giáo, cô giáo, người nuôi dưỡng hoặc người chữa bệnh cho mình; thực hiện hành vi có tổ chức; lợi dụng chức vụ, quyền hạn; thực hiện hành vi trong thời gian đang bị giữ, tạm giữ, tạm giam hoặc đang chấp hành các biện pháp xử lý theo quy định của pháp luật; thuê người khác gây thương tích hoặc nhận thuê gây thương tích; thực hiện hành vi có tính chất côn đồ; hoặc gây thương tích đối với người đang thi hành công vụ hoặc vì lý do công vụ của nạn nhân.
Ngoài các trường hợp nêu trên, Bộ luật Hình sự cũng quy định người có hành vi cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác với tỷ lệ thương tật dưới 11% nhưng thuộc các trường hợp như sử dụng hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người, gây cố tật nhẹ cho nạn nhân hoặc phạm tội nhiều lần đối với cùng một người hoặc đối với nhiều người thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự.
Khi cơ quan có thẩm quyền xác định đầy đủ các yếu tố cấu thành tội phạm, người thực hiện hành vi sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định của pháp luật. Việc áp dụng hình phạt cụ thể sẽ do cơ quan tiến hành tố tụng xem xét trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi, hậu quả xảy ra và các tình tiết liên quan của vụ việc.
Bên cạnh trách nhiệm hình sự, người gây thương tích còn có trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho người bị hại do sức khỏe bị xâm phạm theo quy định tại Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015.
3. Vai trò của luật sư trong giải quyết tình huống
Trong các vụ việc liên quan đến hành vi cố ý gây thương tích, đặc biệt là những trường hợp tỷ lệ tổn thương cơ thể dưới 11% nhưng vẫn có dấu hiệu bị truy cứu trách nhiệm hình sự, luật sư giữ vai trò quan trọng trong việc bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các bên liên quan.
Đối với người bị tố giác hoặc bị khởi tố, luật sư sẽ nghiên cứu hồ sơ vụ việc, đánh giá các yếu tố cấu thành tội phạm, xác định hành vi có thuộc các trường hợp quy định tại Điều 134 Bộ luật Hình sự hay không, đồng thời tư vấn phương án bảo vệ quyền lợi phù hợp. Luật sư cũng hỗ trợ khách hàng thu thập tài liệu, chứng cứ, tham gia các buổi làm việc với cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Tòa án nhằm bảo đảm quá trình giải quyết vụ án được thực hiện khách quan, đúng quy định pháp luật.
Đối với người bị hại, luật sư có thể hỗ trợ thực hiện thủ tục tố giác tội phạm, cung cấp chứng cứ, yêu cầu giám định tỷ lệ tổn thương cơ thể, đề nghị cơ quan có thẩm quyền khởi tố vụ án khi có căn cứ pháp luật. Đồng thời, luật sư sẽ tư vấn và đại diện cho người bị hại trong việc yêu cầu bồi thường thiệt hại về vật chất và tinh thần theo quy định của Bộ luật Dân sự.
_______________________________________________
Cam kết chất lượng dịch vụ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam hoạt động với phương châm tận tâm – hiệu quả – uy tín, cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ, cụ thể như sau:
- Đảm bảo thực hiện công việc theo đúng tiến độ đã thỏa thuận, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật, đúng với quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư Việt Nam.
- Đặt quyền lợi khách hàng lên hàng đầu, nỗ lực hết mình để mang đến cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất.
- Bảo mật thông tin mà khách hàng cung cấp, các thông tin liên quan đến khách hàng.
Rất mong được hợp tác lâu dài cùng sự phát triển của Quý Khách hàng.
Trân trọng!
(Người viết: Đỗ Minh Nguyệt; Ngày viết: 12/06/2026)
_______________________________________________
Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam
Địa chỉ: Tòa nhà đa năng, Số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 0989.386.729
Email: hotmail@htcvn.vn
Website: https://htcvn.vn; https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn
_______________________________________________
Xem thêm các bài viết có liên quan:
Dưới 18 tuổi cố ý gây thương tích cho người khác trên 30% thì bị xử lý thế nào?
Những lợi ích luật sư mang lại trong vụ án cố ý gây thương tích
Phạm tội cố ý gây thương tích cho người khác có được hưởng án treo không
Tầm quan trọng của luật sư trong vụ án cố ý gây thương tích


