Bị tố giác lừa đảo chiếm đoạt tài sản: Khi nào có nguy cơ bị khởi tố?
Bị người khác tố giác về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tình huống có thể khiến nhiều người lo lắng, đặc biệt khi được Cơ quan Công an mời lên làm việc, yêu cầu cung cấp tài liệu hoặc lấy lời khai. Tuy nhiên, việc một người bị tố giác không đồng nghĩa với việc người đó đã phạm tội hoặc chắc chắn sẽ bị khởi tố.
Theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, chỉ khi có căn cứ xác định dấu hiệu tội phạm thì cơ quan có thẩm quyền mới được khởi tố vụ án hình sự. Do đó, người bị tố giác cần hiểu rõ quá trình xác minh, những yếu tố có thể dẫn đến việc khởi tố và chủ động bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình ngay từ giai đoạn đầu.
1. Bị tố giác lừa đảo chiếm đoạt tài sản có đồng nghĩa với bị khởi tố không?
Bị tố giác và bị khởi tố là hai vấn đề khác nhau. Tố giác về tội phạm là việc cá nhân phát hiện và tố cáo hành vi có dấu hiệu tội phạm với cơ quan có thẩm quyền. Sau khi tiếp nhận tố giác, cơ quan có thẩm quyền sẽ tiến hành kiểm tra, xác minh để xác định vụ việc có dấu hiệu tội phạm hay không.
Theo Điều 143 Bộ luật Tố tụng hình sự hiện hành, chỉ được khởi tố vụ án hình sự khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm. Tố giác của cá nhân chỉ là một trong những căn cứ để cơ quan có thẩm quyền xem xét việc khởi tố, chứ bản thân một đơn tố giác không phải là căn cứ mặc nhiên để kết luận một người đã phạm tội.
Vì vậy, nếu bị người khác tố giác lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người bị tố giác vẫn có quyền trình bày sự việc, cung cấp tài liệu, chứng cứ và giải thích những tình tiết liên quan để cơ quan có thẩm quyền xem xét một cách đầy đủ.
.jpg)
2. Khi nào hành vi có thể bị xem xét về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản?
Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 174 Bộ luật Hình sự. Về bản chất, hành vi phải có yếu tố dùng thủ đoạn gian dối nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác. Không phải cứ có tranh chấp về tiền bạc, không trả được nợ hoặc không thực hiện đúng thỏa thuận là đương nhiên cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Theo khoản 1 Điều 174, trường hợp tài sản bị chiếm đoạt có giá trị từ 2 triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng thì có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đối với tài sản dưới 2 triệu đồng, vẫn có thể bị truy cứu nếu thuộc một trong các trường hợp mà điều luật quy định, chẳng hạn người thực hiện hành vi đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm, đã bị kết án về một số tội chiếm đoạt tài sản mà chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ.
Như vậy, giá trị tài sản là một trong những yếu tố được xem xét nhưng không phải yếu tố duy nhất. Quan trọng hơn, cơ quan có thẩm quyền phải xác định được hành vi gian dối và mối liên hệ giữa thủ đoạn gian dối với việc chiếm đoạt tài sản.
3. Những dấu hiệu nào có thể khiến người bị tố giác có nguy cơ bị khởi tố?
3.1. Có tài liệu thể hiện việc sử dụng thủ đoạn gian dối
Đây là vấn đề quan trọng khi xem xét một vụ việc có dấu hiệu lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cơ quan có thẩm quyền sẽ xem xét người bị tố giác có đưa ra thông tin sai sự thật, sử dụng thông tin giả, giấy tờ giả hoặc thực hiện những hành vi gian dối khác để làm cho người bị hại tin tưởng và giao tài sản hay không.
Thủ đoạn gian dối cần có ý nghĩa trong việc làm cho người bị hại tin vào thông tin không đúng sự thật và từ đó giao tài sản cho người thực hiện hành vi. Nếu không chứng minh được yếu tố gian dối có trước hoặc gắn với việc chiếm đoạt, việc xác định tội danh cần được xem xét thận trọng.
3.2. Có căn cứ cho thấy mục đích chiếm đoạt tài sản
Một vấn đề khác cần được làm rõ là ý thức của người bị tố giác tại thời điểm thực hiện giao dịch hoặc nhận tài sản.
Trong thực tế có những trường hợp hai bên thực hiện hợp đồng mua bán, vay tiền, đặt cọc, góp vốn hoặc hợp tác kinh doanh nhưng sau đó phát sinh tranh chấp. Một bên không thực hiện được cam kết hoặc chậm thanh toán chưa đủ để kết luận người đó đã lừa đảo.
Để xem xét trách nhiệm hình sự về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, cần đánh giá tổng thể hành vi, thủ đoạn gian dối, thời điểm xuất hiện ý định chiếm đoạt, việc giao nhận tài sản và các chứng cứ khác có liên quan. Nếu bản chất chỉ là tranh chấp dân sự hoặc tranh chấp hợp đồng thì không thể chỉ dựa vào việc một bên không thực hiện được nghĩa vụ để mặc nhiên xác định có tội phạm.
3.3. Có chứng cứ về việc tài sản đã được giao và bị chiếm đoạt
Cơ quan có thẩm quyền cũng sẽ xem xét tài sản có thực sự được giao cho người bị tố giác hay không, việc giao nhận diễn ra bằng hình thức nào và sau đó tài sản được sử dụng, quản lý hoặc chuyển dịch ra sao.
Các tài liệu như hợp đồng, giấy nhận tiền, sao kê tài khoản, tin nhắn, email, dữ liệu điện tử, ghi âm, hình ảnh hoặc lời khai của những người liên quan có thể được xem xét để làm rõ diễn biến giao dịch.
Tuy nhiên, việc có giao dịch và có việc chuyển tiền không đồng nghĩa với việc giao dịch đó chắc chắn là hành vi lừa đảo. Cần xem xét toàn bộ bối cảnh và mục đích của giao dịch để xác định bản chất vụ việc.
4. Bị tố giác lừa đảo, Công an có được khởi tố ngay không?
Không phải cứ tiếp nhận đơn tố giác là cơ quan Công an có thể ngay lập tức khởi tố vụ án. Theo Điều 147 Bộ luật Tố tụng hình sự, sau khi tiếp nhận tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh và ra quyết định theo quy định.
Trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày nhận được tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố, cơ quan có thẩm quyền phải kiểm tra, xác minh và ra một trong các quyết định: khởi tố vụ án hình sự, không khởi tố vụ án hình sự hoặc tạm đình chỉ việc giải quyết nguồn tin. Đối với vụ việc có nhiều tình tiết phức tạp hoặc phải kiểm tra, xác minh tại nhiều địa điểm, thời hạn có thể kéo dài nhưng không quá 2 tháng; trường hợp chưa thể kết thúc việc xác minh thì có thể được gia hạn một lần không quá 2 tháng theo quy định.
Trong quá trình giải quyết nguồn tin về tội phạm, cơ quan có thẩm quyền có thể thu thập thông tin, tài liệu, đồ vật từ các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan; khám nghiệm hiện trường; trưng cầu giám định hoặc yêu cầu định giá tài sản khi cần thiết.
Điều này cho thấy giữa thời điểm bị tố giác và thời điểm khởi tố có thể tồn tại một quá trình xác minh. Người bị tố giác có cơ hội cung cấp thông tin, tài liệu và trình bày những tình tiết có liên quan đến vụ việc.
5. Không trả được tiền có bị khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không?
Đây là vấn đề thường gây nhầm lẫn trong thực tế. Một người vay tiền nhưng sau đó không có khả năng trả nợ, một bên nhận tiền đặt cọc nhưng không thể thực hiện hợp đồng hoặc một doanh nghiệp nhận tiền của đối tác nhưng gặp khó khăn tài chính chưa thể hoàn thành nghĩa vụ không đương nhiên cấu thành Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Điểm quan trọng cần xem xét là ngay từ thời điểm giao dịch, người đó có sử dụng thủ đoạn gian dối nhằm làm cho bên kia tin tưởng và giao tài sản với mục đích chiếm đoạt hay không.
Nếu hai bên thực sự xác lập giao dịch, việc không thực hiện được nghĩa vụ phát sinh sau đó do những nguyên nhân khách quan hoặc khó khăn trong quá trình thực hiện hợp đồng thì vụ việc có thể thuộc quan hệ dân sự, kinh doanh, thương mại tùy từng trường hợp. Ngược lại, nếu có căn cứ cho thấy ngay từ đầu người nhận tài sản đã sử dụng thông tin gian dối để tạo lòng tin, nhận tài sản rồi thực hiện việc chiếm đoạt thì có thể bị xem xét trách nhiệm hình sự nếu đáp ứng đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội phạm.
Do đó, khi bị tố giác, người bị tố giác cần làm rõ toàn bộ quá trình hình thành và thực hiện giao dịch thay vì chỉ tập trung vào việc hiện tại mình có còn khả năng trả tiền hay không.
6. Bị tố giác lừa đảo chiếm đoạt tài sản cần làm gì?
Khi biết mình bị tố giác, người bị tố giác không nên hoảng loạn hoặc tự ý xóa tin nhắn, tiêu hủy giấy tờ, thay đổi dữ liệu hay tác động đến người tố giác, người bị hại và những người làm chứng.
Trước hết, cần xác định nội dung tố giác và những vấn đề mà cơ quan có thẩm quyền đang xác minh. Sau đó, nên rà soát toàn bộ tài liệu liên quan đến giao dịch như hợp đồng, thỏa thuận, chứng từ chuyển tiền, giấy biên nhận, tin nhắn, email, dữ liệu giao dịch và những tài liệu có thể chứng minh diễn biến thực tế.
Nếu giao dịch phát sinh tranh chấp, cần làm rõ quá trình từ khi hai bên bắt đầu liên hệ, thỏa thuận, giao nhận tài sản cho đến khi phát sinh mâu thuẫn. Những thông tin này có thể có ý nghĩa trong việc phân biệt giữa tranh chấp dân sự và hành vi có dấu hiệu tội phạm.
Trong trường hợp được Cơ quan Công an mời làm việc, người bị tố giác cần đọc kỹ nội dung yêu cầu, xác định tư cách của mình và có thể nhờ luật sư tư vấn, tham gia bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp theo quy định.
7. Vai trò của luật sư khi bị tố giác lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Khi bị tố giác về Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, người bị tố giác thường gặp khó khăn trong việc đánh giá đâu là tranh chấp dân sự và đâu là vấn đề có thể dẫn đến trách nhiệm hình sự. Luật sư có thể giúp rà soát vụ việc một cách có hệ thống, tập trung vào các yếu tố pháp lý mà cơ quan có thẩm quyền cần xem xét để xác định có dấu hiệu tội phạm hay không.
Trước hết, luật sư có thể trao đổi với khách hàng để làm rõ toàn bộ quá trình giao dịch, từ thời điểm các bên bắt đầu liên hệ, thỏa thuận, giao nhận tài sản cho đến khi phát sinh tranh chấp. Đối với vụ việc lừa đảo, việc xác định thời điểm xuất hiện thông tin gian dối và mục đích của người nhận tài sản có ý nghĩa quan trọng. Luật sư sẽ dựa trên hồ sơ, tài liệu và lời trình bày của khách hàng để xác định những vấn đề cần được giải thích và chứng minh.
Luật sư cũng có thể hỗ trợ khách hàng rà soát, bảo quản và cung cấp các tài liệu có liên quan như hợp đồng, giấy nhận tiền, sao kê ngân hàng, tin nhắn, email, dữ liệu điện tử, hình ảnh, ghi âm hoặc những tài liệu khác được thu thập hợp pháp. Những tài liệu này có thể giúp làm rõ bản chất giao dịch và các tình tiết mà đơn tố giác có thể chưa phản ánh đầy đủ.
Trong quá trình khách hàng làm việc với cơ quan có thẩm quyền, luật sư có thể tư vấn về quyền và nghĩa vụ, hướng dẫn cách trình bày sự việc một cách chính xác, thống nhất và phù hợp với chứng cứ. Trường hợp khách hàng thuộc diện được luật sư bảo vệ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự, luật sư có thể thực hiện các quyền tố tụng tương ứng, đưa ra tài liệu, chứng cứ, yêu cầu và tham gia các hoạt động tố tụng theo quy định pháp luật.
Đặc biệt, luật sư có thể giúp phân tích ranh giới giữa tranh chấp dân sự về nghĩa vụ thanh toán, hợp đồng, đặt cọc, vay tài sản với hành vi có dấu hiệu của Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Việc phân tích này cần dựa trên chứng cứ và diễn biến thực tế, không thể chỉ dựa vào việc một bên chưa trả được tiền hoặc không thực hiện đúng cam kết.
Nếu vụ án được khởi tố, luật sư có thể tiếp tục tham gia với tư cách người bào chữa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị can trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử. Trường hợp có căn cứ cho rằng hành vi không cấu thành tội phạm hoặc chưa đủ căn cứ xác định trách nhiệm hình sự, luật sư có thể sử dụng các tài liệu, chứng cứ phù hợp để trình bày và bảo vệ quan điểm pháp lý của khách hàng theo đúng quy định.
8. Bị tố giác lừa đảo không có nghĩa chắc chắn sẽ bị khởi tố
Bị người khác tố giác về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản không đồng nghĩa với việc người bị tố giác chắc chắn bị khởi tố. Cơ quan có thẩm quyền chỉ được khởi tố vụ án khi đã xác định có dấu hiệu tội phạm và phải tiến hành kiểm tra, xác minh nguồn tin theo trình tự pháp luật.
Đối với người bị tố giác, điều quan trọng là không nên né tránh hoặc tự ý xử lý chứng cứ mà cần chủ động thu thập, bảo quản những tài liệu chứng minh sự thật của giao dịch và trình bày đầy đủ diễn biến vụ việc. Nếu vụ việc có tính chất phức tạp hoặc có nguy cơ phát sinh trách nhiệm hình sự, việc tham vấn luật sư ngay từ giai đoạn giải quyết tố giác có thể giúp người bị tố giác hiểu rõ quyền của mình và có phương án bảo vệ phù hợp.
_________________________________
Cam kết chất lượng dịch vụ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam hoạt động với phương châm tận tâm – hiệu quả – uy tín, cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ, cụ thể như sau:
- Đảm bảo thực hiện công việc theo đúng tiến độ đã thỏa thuận, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật, đúng với quy tắc đạo đức và ứng xử của Luật sư Việt Nam.
- Đặt quyền lợi khách hàng lên hàng đầu, nỗ lực hết mình để mang đến cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất.
- Bảo mật thông tin mà khách hàng cung cấp, các thông tin liên quan đến khách hàng.
Rất mong được hợp tác lâu dài cùng sự phát triển của Quý Khách hàng.
Trân trọng!
(Người viết: Đoàn Ngọc Khánh; Ngày viết: 21/9/2026)
___________________________________
Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:
Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam
Địa chỉ: P401, Tầng 4, Tòa nhà đa năng, số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội.
Điện thoại: 0989.386.729
Email: hotmail@htcvn.vn
Website: https://htcvn.vn; https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn
___________________________________
Các bài viết liên quan:
- Phân biệt lừa đảo chiếm đoạt tài sản và lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.


