Trang chủ

NƠI YÊN TÂM ĐỂ CHIA SẺ VÀ ỦY THÁC

HTC Việt Nam mang đến "Hạnh phúc -Thành công - Cường thịnh"

Tư vấn pháp luật 24/24

Luật sư có trình độ chuyên môn cao

324

TRAO NIỀM TIN - NHẬN HẠNH PHÚC

CUNG CẤP DỊCH VỤ PHÁP LÝ TỐT NHẤT

bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp

giảm thiếu chi phí- tiết kiệm thời gian

Đòi lại quà cưới (vàng, tiền) sau khi ly hôn: Luật quy định thế nào?

Trong thực tế, không ít trường hợp sau khi ly hôn, một bên yêu cầu bên còn lại trả lại vàng cưới, tiền mừng cưới hoặc các tài sản được tặng trong ngày cưới với lý do “hôn nhân đã chấm dứt thì quà cưới cũng phải hoàn trả”. Tuy nhiên, pháp luật hiện hành không mặc nhiên cho phép đòi lại toàn bộ quà cưới sau ly hôn. Việc xác định có được yêu cầu hoàn trả hay không còn phụ thuộc vào bản chất tài sản, người tặng cho, ý chí tặng cho và việc tài sản đó được xác định là tài sản chung hay tài sản riêng của vợ chồng. Vậy vàng cưới, tiền cưới được xem là tài sản chung hay tài sản riêng? Cha mẹ hai bên có quyền đòi lại quà cưới đã cho không? Khi ly hôn, Tòa án sẽ xử lý khoản tài sản này như thế nào? Hãy cùng Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam tìm hiểu các quy định pháp luật liên quan để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

1. Quy định pháp luật về tài sản chung, tài sản riêng trong hôn nhân

1.1 Khái niệm tài sản chung

Theo quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng được xác định bao gồm toàn bộ tài sản do vợ hoặc chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân; các khoản thu nhập phát sinh từ hoạt động lao động, sản xuất, kinh doanh; hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng cũng như các khoản thu nhập hợp pháp khác có được trong thời kỳ hôn nhân, ngoại trừ trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 40 Luật Hôn nhân và gia đình 2014.

Bên cạnh đó, những tài sản mà vợ chồng được thừa kế chung, được tặng cho chung hoặc các tài sản khác mà hai bên có thỏa thuận xác định là tài sản chung cũng đều được pháp luật công nhận là tài sản chung của vợ chồng.

1.2 Khái niệm tài sản riêng

Hiện nay, Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cùng các văn bản pháp luật có liên quan chưa đưa ra khái niệm cụ thể về “tài sản riêng”. Tuy nhiên, căn cứ vào các quy định pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng, có thể hiểu tài sản riêng là tài sản thuộc quyền sở hữu độc lập của một cá nhân và không thuộc phạm vi sở hữu chung với người khác, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Trong quan hệ hôn nhân, tài sản riêng thường bao gồm tài sản mà mỗi bên có trước khi kết hôn; tài sản được thừa kế riêng hoặc được tặng cho riêng trong thời kỳ hôn nhân; tài sản được hình thành từ chính tài sản riêng của vợ hoặc chồng; đồng thời còn có thể bao gồm một số quyền tài sản, quyền sở hữu trí tuệ gắn liền với cá nhân theo quy định của pháp luật.


2. Quà cưới (tiền, vàng) được xác định là tài sản chung hay tài sản riêng?

2.1 Trường hợp xác định là tài sản chung

Theo quy định tại Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản chung của vợ chồng bao gồm tài sản do vợ, chồng tạo ra trong thời kỳ hôn nhân cũng như những tài sản mà vợ chồng có thỏa thuận xác định là tài sản chung. Theo đó, một tài sản có thể được xem là tài sản chung trong 02 trường hợp: Tài sản được hình thành trong thời kỳ hôn nhân; Vợ chồng có sự thỏa thuận thống nhất xác định đó là tài sản chung của cả hai bên.

Đối với vàng cưới, việc xác định là tài sản chung hay tài sản riêng cần căn cứ vào ý chí của người tặng cho cũng như mục đích của việc tặng cho tài sản đó. Theo khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản được tặng cho riêng cho vợ hoặc chồng trong thời kỳ hôn nhân được xác định là tài sản riêng của người được tặng cho. Vì vậy, nếu trong lễ cưới, người tặng vàng, tiền thể hiện rõ ý chí tặng riêng cho cô dâu hoặc chú rể thì số vàng, số tiền đó sẽ được xem là tài sản riêng của người nhận và không thuộc khối tài sản chung của vợ chồng khi ly hôn.

Ngược lại, trong trường hợp vàng cưới được tặng cho chung cả hai vợ chồng với mục đích hỗ trợ tạo dựng vốn ban đầu, ổn định cuộc sống hoặc phát triển kinh tế gia đình thì số vàng này sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng.

2.2 Trường hợp xác định là tài sản riêng

Theo quy định tại khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vàng cưới trong một số trường hợp có thể được xác định là tài sản riêng của vợ hoặc chồng. Việc xác định này phụ thuộc vào thời điểm hình thành tài sản, nguồn gốc tài sản cũng như ý chí của các bên trong quan hệ hôn nhân.

Đối với tài sản có được trước khi kết hôn, pháp luật quy định đây là tài sản riêng của người có tài sản đó trước thời kỳ hôn nhân. Theo khoản 1 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản riêng của vợ, chồng bao gồm tài sản mà mỗi người có trước khi kết hôn. Vì vậy, trường hợp vàng, tiền được một bên sở hữu trước thời điểm đăng ký kết hôn thì về nguyên tắc, số vàng, tiền này vẫn thuộc quyền sở hữu riêng của người đó và không tự động trở thành tài sản chung của vợ chồng sau khi kết hôn. Tuy nhiên, pháp luật vẫn tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên, do đó vợ chồng có thể thỏa thuận nhập tài sản riêng vào khối tài sản chung. Nếu không tồn tại thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung thì tài sản có trước hôn nhân vẫn được xác định là tài sản riêng độc lập của vợ hoặc chồng.

Đối với tài sản được hình thành từ tài sản riêng và hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân. Cụ thể, căn cứ khoản 2 Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, tài sản được hình thành từ tài sản riêng của vợ, chồng vẫn được xem là tài sản riêng của người có tài sản đó. Điều này có nghĩa rằng nếu một bên sử dụng tài sản riêng của mình để chuyển hóa thành tài sản khác thì tài sản mới hình thành về cơ bản vẫn mang bản chất là tài sản riêng. Tuy nhiên, đối với hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân, việc xác định lại được thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 33 và khoản 1 Điều 40 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Theo các quy định này, hoa lợi, lợi tức phát sinh từ tài sản riêng trong thời kỳ hôn nhân thông thường sẽ được xác định là tài sản chung của vợ chồng, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc thuộc trường hợp chia tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân theo quy định pháp luật.

3. Pháp luật quy định như thế nào về trường hợp đòi quà cưới (tiền, vàng) sau khi ly hôn

Việc giải quyết tranh chấp liên quan đến quà cưới khi ly hôn được thực hiện dựa trên nhiều căn cứ pháp lý khác nhau, trong đó quan trọng nhất là ý chí của người tặng cho tài sản, thời điểm phát sinh việc tặng cho và quá trình quản lý, sử dụng tài sản trên thực tế. Các căn cứ này được xác định dựa trên sự kết hợp giữa quy định của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Bộ luật Dân sự năm 2015 và pháp luật tố tụng dân sự hiện hành. Theo đó, thời điểm tặng cho trước hay sau khi đăng ký kết hôn có ý nghĩa quan trọng trong việc xác định đây là tài sản chung hay tài sản riêng theo quy định tại Điều 33 và Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Đồng thời, bên đưa ra yêu cầu xác định tài sản riêng cũng có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu của mình theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Trong thực tiễn xét xử, ý chí của người tặng cho được xem là căn cứ quan trọng hàng đầu để Tòa án xem xét, giải quyết tranh chấp quà cưới khi ly hôn. Theo quy định tại Điều 457 Bộ luật Dân sự năm 2015, tặng cho tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên tặng cho chuyển quyền sở hữu tài sản của mình cho bên được tặng cho mà không yêu cầu đền bù. Từ quy định này, Tòa án sẽ xem xét đối tượng mà người tặng hướng đến khi trao tài sản trong lễ cưới. Trường hợp người tặng thể hiện rõ ý chí tặng cho riêng cô dâu hoặc riêng chú rể, chẳng hạn như phát biểu cụ thể “tặng cho riêng con gái”, “tặng cho riêng con trai” hoặc có văn bản, ghi âm, ghi hình thể hiện rõ nội dung này thì đây có thể được xem là căn cứ xác lập tài sản riêng theo Điều 43 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014. Tuy nhiên, trên thực tế, phần lớn quà cưới được trao trong không khí chung của buổi lễ cưới mà không có sự phân định cụ thể đối tượng nhận tài sản. Trong trường hợp không có chứng cứ rõ ràng chứng minh ý chí tặng cho riêng thì Tòa án thường có cơ sở xác định đây là tài sản được tặng cho chung của vợ chồng nhằm phục vụ việc xây dựng cuộc sống gia đình.

Bên cạnh đó, nghĩa vụ chứng minh là yếu tố có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong quá trình giải quyết tranh chấp tại Tòa án. Theo Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đương sự đưa ra yêu cầu thì phải có nghĩa vụ chứng minh cho yêu cầu đó là có căn cứ và hợp pháp. Đồng thời, khoản 3 Điều 33 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 cũng quy định rằng trong trường hợp không có căn cứ để chứng minh tài sản mà vợ chồng đang tranh chấp là tài sản riêng của mỗi bên thì tài sản đó được xác định là tài sản chung của vợ chồng. Quy định này tạo ra nguyên tắc suy đoán tài sản chung trong quan hệ hôn nhân.

Vì vậy, nếu một bên cho rằng vàng cưới hoặc tiền cưới là tài sản riêng của mình thì bên đó phải xuất trình được các tài liệu, chứng cứ khách quan để chứng minh nguồn gốc riêng của tài sản như lời xác nhận của người tặng, văn bản tặng cho, hình ảnh, video hoặc các tài liệu khác có giá trị chứng minh. Trong trường hợp không đủ căn cứ chứng minh, Tòa án thường sẽ xác định tài sản đó là tài sản chung của vợ chồng và thực hiện phân chia theo nguyên tắc chia tài sản chung khi ly hôn.

Ngoài ý chí tặng cho và nghĩa vụ chứng minh, quá trình quản lý, sử dụng tài sản sau khi nhận quà cưới cũng là căn cứ để Tòa án xem xét bản chất pháp lý của tài sản. Theo Điều 46 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, vợ chồng có quyền thỏa thuận nhập tài sản riêng vào tài sản chung. Do đó, mặc dù ban đầu vàng cưới có thể được xác định là tài sản riêng của một bên nhưng nếu sau đó tài sản này được sử dụng vào mục đích chung của gia đình như bán để mua nhà, mua sắm tài sản sinh hoạt, đầu tư kinh doanh chung hoặc phục vụ các nhu cầu thiết yếu của gia đình thì tài sản đó có thể được xem là đã hòa nhập vào khối tài sản chung của vợ chồng. Khi giải quyết tranh chấp, Tòa án sẽ xem xét cả quá trình sử dụng tài sản, công sức đóng góp của các bên cũng như mục đích sử dụng tài sản để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của vợ và chồng theo quy định của pháp luật.

_________________________________________________

Cam kết chất lượng dịch vụ:

Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam hoạt động với phương châm tận tâm – hiệu quả – uy tín, cam kết đảm bảo chất lượng dịch vụ, cụ thể như sau:

- Đảm bảo thực hiện công việc theo đúng tiến độ đã thỏa thuận, đảm bảo tuân thủ đúng quy định pháp luật, đúng với quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư Việt Nam.

- Đặt quyền lợi khách hàng lên hàng đầu, nỗ lực hết mình để mang đến cho khách hàng chất lượng dịch vụ tốt nhất.

- Bảo mật thông tin mà khách hàng cung cấp, các thông tin liên quan đến khách hàng.

Rất mong được hợp tác lâu dài cùng sự phát triển của Quý Khách hàng.

Trân trọng!

(Người viết: Đỗ Minh Nguyệt; Ngày viết: 15/05/2026)

_________________________________________________

Để được tư vấn chi tiết xin vui lòng liên hệ:

Công ty Luật TNHH HTC Việt Nam

Địa chỉ: Tầng 15, Tòa nhà đa năng, Số 169 Nguyễn Ngọc Vũ, phường Yên Hòa, Thành phố Hà Nội.

Điện thoại: 0989.386.729

Email: hotmail@htcvn.vn

Website: https://htcvn.vn; https://htc-law.com; https://luatsuchoban.vn

_________________________________________________

Xem thêm các bài viết có liên quan:

Thủ tục ly hôn thuận tình

Tư vấn pháp luật hôn nhân và gia đình

Chứng minh tài sản riêng trong hôn nhân

Tư vấn pháp luật về tranh chấp tài sản khi ly hôn

Quá trình hình thành tài sản chung của vợ chồng

Tư vấn về quyền có tài sản riêng của con cái




Gọi ngay

Zalo